02
Oct
14

2014 Song Pick: Mr. Twin Sister – In the House of Yes

Mr.-Twin-Sister-In-The-House-Of-Yes

Mr. Twin Sister

IN THE HOUSE OF YES

Mr. Twin Sister

———

Khi debut vào 2010 với nghệ danh Twin Sister, nhóm này là một trong những con cưng của blogsphere (GorillavsBear, Pitchfork, Stereogum) bởi họ chịu “bẻ gãy” công thức dream-pop mà rất nhiều nhóm thời đó cứ làm na ná nhau. “All Around Away We Go” nối kết disco và dream-pop đương đại một cách rất thành công và dễ dàng trong khi “Lady Daydream” thì trở thành soundtrack của biết bao nhiêu nụ hôn giữa những fan. Đến In Heaven, Twin Sister chịu khó thử thách mình hơn nữa. Họ lấy những ảnh hưởng từ David Lynch, anime Nhật Bản và dần thoát khỏi cái mác “band theo trend” mà Memoryhouse dính phải. Khi nhóm tuyên bố sẽ đổi tên thành Mr. Twin Sister, mình khá lo ngại bởi những trường hợp đổi tên bao giờ cũng đưa một nhóm lao thẳng xuống vực trong mặt chất lượng (điển hình: The Morning Benders đổi tên thành POP ETC. xong là sự nghiệp cũng xong luôn).

Nghe xong “In The House of Yes” thì quá sốc. Tuy MTS là một nhóm debut với một track disco-pop, mình không bao giờ tưởng tượng họ sẽ làm hẳn một bài hẳn theo dòng house mà với một cách nhìn chững chạc lẫn thời thượng như vậy. Từ ngay cách họ xử lí production, ban nhạc vẫn để ý đến những gì lợi thế nhất cho ban nhạc. Vì Andrea không phải là một vocalist hát khoe khoang, lẫn kiểu hát tròn chữ khá ngộ của cô khác với những gì vocalist của house-pop hay làm, MTS chọn một cách đi thông minh nhất: họ để phần groove/rhythm/beat của bài là nhạc dance trong khi phần “feel” của production lại lo-fi, “đóng bụi” như âm nhạc của nhóm trước đây. Kết quả, “In The House of Yes” nghe hết sức sexy – một từ không bao giờ nghĩ sẽ dùng để mô tả MTS.

——–

8+

01
Oct
14

R&B Singles Dump 2014

9dNy1b

Hoody – “Baby Oh Baby“/”Baby Oh Baby” (Remix) (Feat Coke Jazz이다흰)

Sau “My Ride” do chính bản thân sáng tác, sản xuất lẫn phối khí, Hoody quay trở lại với “Baby Oh Baby” – một sản phẩm hoàn thiện hơn single đầu tay kia ở mọi mặt. Về mặt sonic, “Baby Oh Baby” cho thấy Hoody đã chỉnh sửa nhiều lỗi mình mắc phải khi mới debut; phần instrumentation nghe cứng cáp và cách dàn dựng tạo cảm giác “seductive” ngay tức thì. Rồi ngay khi bài hát cảm tưởng sẽ chỉ chuyển động mềm mại, Hoody chèn vào một khúc synth bass (từ 0:21) và “Baby Oh Baby” đi từ bất ngờ này qua bất ngờ khác. Bản remix được thực hiện với 이다흰Coke Jazz (bạn trai của Hoody) thì có sự hiện diện rõ rệt hơn của phần bass, mặc dù loại bass được chọn dịu và  jazzy hơn. Thật sự mình thích sự xuất hiện bất ngờ của đoạn synth bass trong bản original, nhưng về toàn diện thì lại thích bản remix hơn bởi cách nó nghe rất “smooth” mà không hề boring.

zion-t-yanghwabridge

Zion.T – “양화대교” (YANG HWA BRIDGE)

Bởi giọng hát của Zion là một dụng cụ có tính biểu cảm cao, anh có thể khiến một bài ballad bình thường nghe màu sắc lên hẳn. Ấy thế, “bình thường” là ván bài anh hiếm khi nào chơi cho nên “Yang Hwa Bridge” là một bất ngờ nho nhỏ. Bài hát cảm giác “truyền thống” hơn trong mặt giai điệu lẫn trình bày hơn tất cả những gì anh thể hiện trên Red Light, nhưng không vì thế nó mất đi những gì khiến Zion.T trở nên thu hút đến thế. Anh giữ phần instrumentation ở mức tối giản nhất có thể, chỉ giọng hát và keyboard. Rồi đến khi khai thác orchestration ở cuối cho đoạn cao trào, mọi thứ rất vừa phải. Không hẳn là must-listen, nhưng nếu đã là fan của Zion.T thì vẫn đáng tìm nghe.

toughlove

Jessie Ware – “Kind Of…Sometimes…Maybe

Trong tất cả những bài Ware tung ra từ Tough Love thì đây là track mình thích nhất. “Tough Love” đẹp nhưng thiếu năng lượng, “Share It All” là nhạc The xx tiêm thêm thuốc ngủ, “Say You Love Me” nghe thấy ý đồ trở thành hit lộ liễu và trơ trẽn, còn “Want Your Feeling” nghe xong không thấy cảm giác gì. “Kind Of…“, đồng sáng tác với Miguel, đưa Ware trở về kiểu electronic pop mà cô làm rất xuất sắc ở Devotion. Ngay từ mở bài, cách Ware thẩn thờ phủ nhận sự cô đơn “Do I get lonely at all? No cuz Jimmy, and Johnny, and Jack keep me warm“, cho đến khi cô dần dần thừa nhận rằng cô có nhớ người ấy “Kind of/sometimes/maybe” với hàng loạt layer âm thanh tua tủa xuất hiện ở dưới trong phần nói của Miguel, background vocals của Jessie lẫn phần vocals chính đánh tổng thể tạo hook đến hook. Hiện tại những bài từ Tough Love đã nghe thì nửa hit-nửa-miss cho nên không dám hy vọng gì nhiều. Vẫn mong Jessie sẽ thoát khỏi lời nguyền “sophomore slump” vì rất may Ed Sheeran chỉ nhúng tay vào đúng 1 bài trong album.

——–

Link Download ở Tumblr của website. Nhớ down xong, đổi đuôi thành .rar rồi extract nhé. :)

 

23
Aug
14

2014 Song Pick: Crush(크러쉬) – Sometimes(가끔)

e4z7

Crush (크러쉬)

Sometimes (가끔)

Crush On You

———-

Sự phát triển không ngừng của Alternative R&B đôi khi làm mình quên mất sự tồn tại của R&B Đương Đại - nơi mà Ashanti, Ciara, Mario, Chris Brown hay Confession-Usher một thời thống trị. R&B kiểu không truyền thống cũng không quá màu nhiệm này khá là khó để làm cho chỉn chu. Một mặt, instrumentation/production nên cân bằng giữa “làm tốt” và “dễ nghe”. Bên cạnh đó, giai điệu cũng phải hay để lôi cuốn khán giả và không quá rườm rà trừu tượng để họ dễ đồng cảm. Chính vì những cái bẫy hướng R&B Đương Đại vào việc nên giản đơn như vậy, phần lớn các sản phẩm cứ theo chân vào lối mòn và không chịu “bẻ gãy” công thức một cách tinh vi để làm nó thật sự đáng nhớ.

Sometimes” của Crush là một ví dụ điển hình chứng minh phép màu có thể xảy ra khi người nghệ sĩ cân bằng giữa “radio-friendly” với “taste”. Được sáng tác, dàn dựng và sản xuất hoàn toàn bởi Crush, “Sometimes” tận dụng chỉ một vài âm thanh đơn giản: những tiếng lướt nhẹ tênh của guitar điện, percussion bồng bềnh lãng tử khá jazzy và đoạn synth dịu dàng từ keyboard. Không một instrumentation nào cảm giác rời rạc và muốn trở thành trung tâm; chúng hòa hợp nhịp nhàng và để Crush tha thiết về nỗi nhớ người yêu cũ. Nhưng nếu đơn giản thế, ta lại dễ bỏ qua điều làm cho “Sometimes” trở thành đặc biệt. Anh chàng trong bài thật sự chẳng còn cảm giác gì nữa, nhưng việc nhớ những gì đã qua là chuyện hiển nhiên. Những câu như “I miss you/Miss kissing you/And hugging you” hoàn toàn không đáng bàn trong mặt ngôn ngữ, nhưng trong cách Crush thể hiện, anh chán chường bởi cảm giác cô đơn của riêng mình – hoàn toàn là về mình chứ không hề vì người yêu cũ. “Sometimes” hay là vậy. Nó lôi cuốn vì nó phác họa một nhân vật chân thật, ích kỉ bởi những nhu cầu về thể xác và tâm hồn như nhiều người khác.

 ———

8

———

21
Aug
14

Single Review: Jessie Ware – Say You Love Me

Say-You-Love-Me-608x608

Jessie Ware

Say You Love Me

Tough Love

———-

Đồng sáng tác với Ed Sheeran và sản xuất bởi BenZel, “Say You Love Me” khác nhiều so với những gì Jessie Ware từng làm. Trong khi single mở đường “Tough Love” tiếp tục “hiện đại hóa” quiet-storm/pop-soul, “Say You Love Me” theo hẳn xu hướng pop-rock đương đại tung hoành trên các bảng xếp hạng bây giờ. Từ cách phần guitar lung linh xuyên suốt bài cho đến cách dùng dàn đồng ca ở đoạn chorus cuối, “Say You Love Me” nghe như được tạo ra để trở thành một radio hit cho Ware. Mình không có vấn đề gì với việc nghệ sĩ indie muốn mở rộng tầng phủ sóng và đây cũng không phải lần đầu Ware thử nghiệm với việc làm nhạc phù hợp cho sân khấu lớn (“Wildest Moment” là ví dụ rõ nhất). Tuy nhiên, ngoài việc đem lại những bất ngờ không tưởng, “Say You Love Me” cảm giác như một cách tìm hit hơi rẻ tiền. Cách dùng dàn đồng ca rồi cả sự lựa chọn instruments đều nghe sến súa và chúng đi ngược lại yếu tố làm Ware trở nên thu hút như vậy vào 2 năm trước: một ca sĩ có sự am hiểu tuyệt vời về “kiềm chế”, lẫn trong vocals và production. Vocals thì vẫn hiện hữu trên “Say You Love Me” bởi vì thậm chí khi đến cao trào, Ware không hề belt tơi tả như dự đoán mà cô vẫn “kiềm” lại nhiều. Nếu đưa bài này cho Jennifer Hudson hay Christina Aguilera thì đảm bảo 10 phút sau, hàng loạt fan sẽ cầm vòi sen rồi gào thét oi ỏi trong nhà tắm. Cách hát của Ware vẫn là điều thu hút mình, nhưng “Say You Love Me“, cho dù lấp lánh mơ mộng, lại hoàn toàn phản bội giọng hát tuyệt vời ấy.

———

5

——–

18
Aug
14

Album Review: FKA twigs – LP1

FKA-twigs-LP1-608x608

Trong vòng 5 đến 6 năm qua, sự xuất hiện của những album debut xuất sắc từ dòng Alternative R&B (hoặc chịu ảnh hưởng của R&B) không hề ít. The Weeknd, Frank Ocean hay Jessie Ware đều cho ra những sản phẩm mà họ có thể nhìn lại sau 10 năm và vẫn có thể cảm thấy rất hãnh diện về chúng. House of Balloons là một cột mốc quan trọng cho dòng R&B u-ám-sexy vẫn khá phổ biến đến giờ, Devotion làm mới lại pop-soul qua giọng hát ngọt như mật và những phần production tối tân nhất.  Còn về Channel Orange, lời khen thì quả thật không biết nói sao cho đủ. Với LP1, Tahliah Barnett (tên thật của FKA twigs) có thể an tâm rằng những kỳ vọng mà giới phê bình gửi trọn cho cô sau thành công của EP1 EP2 hoàn toàn không uổng phí.

Mặc dù liên tục được báo chí so sánh với Aaliyah Bjork, âm nhạc của Barnett chịu ảnh hưởng nhiều không kém từ trip-hop, cụ thể là ở bộ ba Massive Attack-Tricky-Portishead. Sự lựa chọn percussion xuyên suốt LP1 luôn là những tiếng drum di động chậm rãi, lúc vươn mình uốn éo, lúc thì lại dừng bất ngờ. Trong trip-hop, cách khai thác drum nhịp chậm thế này là một công cụ hiệu quả để giúp bài hát toát lên vẻ gợi cảm bí ẩn. Ở LP1, Barnett lợi dụng yếu tố này để diễn đạt cảm giác hồi hộp lẫn đa nghi, đôi lúc là về khả năng của bản thân trong vai trò một người nghệ sĩ, đôi lúc lại về sự mong mỏi tột cùng về người mình yêu.

IMG_0531-crop

LP1 bao gồm một đội ngũ producer đẹp như mơ, từ Paul Epworth (sản xuất 21 cho Adele), Arca (cộng sự ở 2 EP đầu cho twigs và Kanye WestYeezus), đến Dev Hynes (Solange, Sky Ferreira) và Sampha, Inc. Mỗi người liệt kệ ở trên đều mang một phong cách production rất riêng nhưng bạn sẽ không thể nghe ra điều đó trên LP1. Đồng sáng tác toàn bộ 10 bài lẫn đồng sản xuất gần hết album, Barnett hướng tất cả những producer này giúp mình đạt được cái thế giới âm thanh mà cô mường tượng nhưng chưa thể tự thực hiện bởi sự hạn chế trong kinh nghiệm với production. Nghe “Two Weeks” thật không thể nào nghĩ rằng ở đây có sự góp mặt của người sản xuất Born To Die (Lana Del Rey) hay càng khó tin hơn là việc Paul Epworth là người đồng sản xuất “Pendulum” chứ không phải Arca. Như đã từng chứng minh ở “How’s That” và “Water Me“, Barnett nhạy bén vô cùng trong cách chọn percussion để làm nổi bật thần thái của bài hát. Mỗi tiếng giật của drum machine có thể nói lên rất nhiều mà không cần cô hát một lời, và LP1, tương tự, có vô số những khoảnh khắc mê hoặc như vậy.

Sự khác biệt rõ  nhất ở LP1 so với các sản phẩm trước là cách Barnett mở rộng cấu trúc bài hát mình hơn nhiều, và điều này dẫn đến những thành công cũng như thất bại nói chung. Ở mặt tích cực, khi cô cho bài hát nhiều giai điệu cũng như làm “căng”  phần production lên tới bến trong mặt cảm xúc, chúng đều để lại ấn tượng mạnh mẽ. Bởi một mặt, đó là sự phát triển hợp lẽ từ những cấu trúc khá “mỏng manh” của EP1+2, cũng như không hề mất đi những gì khiến FKA twigs trở thành một nghệ sĩ đầy thu hút như vậy. Nhưng với mỗi đỉnh cao của “Two Weeks” hay “Kicks” thì  album lại đi lùi với “Hours” hay “Numbers“. Những bài này tuy được phát triển hơn ở mặt cấu trúc nhưng kết cục lại nghe khá nhạt nhòa. Hàng loạt chi tiết thú vị trong mặt sonic xảy ra nhưng Barnett lại không thể tạo ra một dòng giai điệu đáng nhớ để nối kết chúng lại với nhau. Từ phần đọc-hát lãng xẹt ở verse 2 trong “Hours“cho đến việc vô vàn percussion đứt đoạn xoay chuyển trong “Numbers“, Barnett cho phép quá nhiều thứ xảy ra mà không hề biết nên cắt bỏ hay để lại đoạn nào quan trọng. Kết quả là những khoảnh khắc như vậy, mặc cho dung hợp nhịp nhàng thế nào trong concept của album, trở thành những “cục chì” nặng kéo LP1 đi lê lết.

twigs_papi-crop

Việc mở rộng cấu trúc trong giai điệu và chords cho phép Barnett nhiều cơ hội để thể hiện 2 điều: vocals và lyrics. LP1 không thiếu những đoạn hơi vụng về ở cách chơi chữ hay mặt so sánh ẩn dụ, nhưng ở những khoảnh khắc thẳng thắn nhất, Barnett hoàn toàn có khả năng viết ra những dòng lyrics đáng nhớ cực kỳ (Higher than a motherfucker, dreaming of you as my lover, Two Weeks“). Hoặc ở “Pendulum“, chỉ đơn giản trong “So lonely trying to be yours/What a forsaken cause...”, cô nói lên hết biết bao nhiêu cảm xúc khi cố gắng níu giữ thứ tình yêu không thuộc về mình, bộc lộ cả cái vô vọng trong điều không tưởng ấy. Không những là ở những dòng lyrics tiêu biểu, cách Barnett tự sự hay viết một câu chuyện bất ngờ cũng thú vị không kém (“Video Girl” và “Kicks“). Ở nửa đầu, “Kicks” ai oán trong nỗi cô đơn (“Tell me what do I do when you’re not here?“) và chỉ với một chút thay đổi trong bối cảnh, nửa sau lại nói về cách Barnett giành lại uy quyền thông qua “I just touch myself/And say, I’ll make my own damn way“. Sự chuyển đổi chủ đề như vậy rất bất ngờ nhưng nó không hề cắt đứt mạch chảy của bài mà trái lại còn giúp nhấn mạnh cái chủ quyền mà Barnett liên tục đề cập kể từ single đầu tiên “Two Weeks“.

Thật sự sẽ rất vô lí nếu chốt lại review này mà không đề cập đến yếu tố chủ chốt của LP1: vocals tuyệt đỉnh của Barnett. Mỏng manh, nữ tính và gợi cảm, Barnett làm nhớ đến Aaliyah rất nhiều ở phong thái hát bình tĩnh này, toát lên cảm giác mình như đứng độc lập trong thế giới của riêng mình, huyền bí lẫn quyến rũ vô cùng (“Two Weeks“). Ở mặt khác, cách cô dùng upper register gợi nhớ đến cả Beth Gibbons của Portishead. Từ cách hạ âm lượng của falsetto đến khi nghe như tiếng thì thầm, cách cô ngân một chút cuối câu tựa tiếng thở dài, hay cách lên cao tưởng chừng như tấm kính mỏng manh sắp tan nát, Barnett sở hữu cái khả năng bộc lộ sự “dễ vỡ” của người con gái đang yêu vô vọng ấy, đau đớn, đày đọa nhưng vẫn kiên trì hát. Nhưng dĩ nhiên,vì LP1 là một dung hợp hết sức thành công giữa Alternative R&B và Trip-hop/Electronic cho nên vocals của cô cũng mang màu sắc tương tự: phong cách hát nhẹ breathy mà Mariah Carey/Janet Jackson tiên phong từ những năm 90s đến cách hát tột bậc của những ca sĩ phòng trà hát tình ca trong đêm đầy khói thuốc.

fka-twigs (1)-crop

LP1 còn phải đi xa lắm mới trở thành thứ album huyền thoại mà mọi người đang liên tục gắn mác cho nó. Tuy thế, điều mà Tahliah Barnett làm được mà rất nhiều nghệ sĩ R&B khác thất bại, đó là tạo ra một thế giới muôn màu muôn vẻ của riêng mình. Đúng, bạn có thể nghe ra ảnh hưởng từ người này người kia trong LP1, nhưng cách Barnett nối kết những ảnh hưởng này lại với nhau khiến chúng nghe rất là mới. Từ những bài hay đến những bài chỉ “tạm”, tất cả đều mạnh mẽ trong cái DNA mà cô tạo ra: chập chừng, mê hoặc, lúc thì mơ màng như những mãnh vỡ, lúc thì hiện rõ như tranh. Kể từ debut xx cùa The xxHouse of Balloons của The Weeknd, thật hiếm khi gặp một debut khác mang tính “original” cao như vậy và không chỉ thế, Barnett không chỉ có ý tưởng mà cô còn có tài để xử lí những ý tưởng đó đến đỉnh cao nhất mà chúng có thể chạm được.

fka-twigs (1)-crop

———-

8.5

———-

16
Aug
14

Discovery: f(x) – Airplane (2013)

fx_pinktapecover

f(x)

Airplane

Pink Tape

———-

Nhạc electronic-dance với cách xây dựng crescendo sau verse 1 rồi tiếp nối với phát bass drop đã trở thành một “đại dịch” hãi hùng trong mấy năm qua. Không những thể loại này lây nhiễm hàng loạt ca sĩ từ các dòng nhạc khác nhau (Usher, Taylor Swift) mà nó còn khiến Top 40 chục bài nghe như do một người sản xuất.”Sweet Nothing” và “Clarity” là hai trong số một vài ngoại lệ; tuy đều mượn rất nhiều yếu tố của EDM, chúng đều chạy theo một hướng khác ở đoạn chorus, sử dụng nét đẹp trong giai điệu để làm mềm đi sự “thô bạo” của phần production. Nhưng cả 2 single này, một do Calvin Harris và một do Zedd đảm nhiệm, đều không thể chạm đến đỉnh cao mà “Airplane” bay đến – dễ dàng là bài hát xuất sắc nhất trong việc xử lí xu hướng EDM-Pop mà mình từng nghe.

Dạo trước VNNTB có viết một bài về “Shadow” và đến bây giờ, nếu phải chọn Pop Single Yêu Thích Nhất 2013, mình sẽ bỏ phiếu cho bài này. Từ production, giai điệu, cách tương phản giữa giọng hát ngọt ngào của 4 thành viên f(x) và phần lyrics rùng rợn khe khẽ, cho đến cấu trúc (đặc biệt version của album), cách chia verse, breakdown và chorus, “Shadow” có tất cả mọi thứ để trở thành một classic của K-Pop. “Airplane” không hề có cái cảm giác “nghệ sĩ” mà “Shadow” sở hữu. Nó chìm đắm trong những tiếng synth mạnh mẽ, gắn kết đoạn chorus và verse với chính kiểu “drop” mà mình cực kì ghét nhưng tất cả đều không hề làm bài hát thua kém “Shadow” ở bất cứ điểm nào. Trái lại, f(x) và đội ngũ sau lưng họ chơi một ván bài liều lĩnh hơn nhiều ở “Airplane“. Họ thử sức ở một xu hướng đã quá nhàm chán và hoàn toàn làm EDM nghe như dòng nhạc gây nhiều xúc cảm lạc quan nhất. Thành công ở đây nằm ở sự phối hợp tuyệt vời giữa phần production và giai điệu; uốn lượn không ngừng nhưng không hề mất trật tự, khi phần synth đi vào lối “ambient”, phần vocals melody thánh thoát chuyển vào falsetto để hỗ trợ nó. Và khi đoạn chorus bị cắt đứt liên tục để dịu đi cảm giác “bạo lực” của EDM, những tiếng “Airplane!“, “Come with me!“, “Love!” là những lựa chọn đơn giản nhưng hiệu quả. Chúng thay phiên nhau nhấn mạnh thông điệp của bài và bên cạnh đó trở thành kiểu hook đơn giản mà bất cứ fan nào (Hàn hay không Hàn) đều hát theo được. Từ những giai đoạn chập chững ban đầu cho đến giờ, K-Pop liên tục chịu ảnh hưởng từ nền âm nhạc của Âu Mỹ và “Airplane” cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng đến cuối, điều buồn cười nhất đó đến cuối, dòng mainstream pop của Hàn lại là nơi nhiều rào cản được liên tục khai phá hơn cả và “Airplane” là minh chứng hùng hồn nhất cho điều đó.

———-

10

———-

28
Jul
14

Clean Bandit – Rather Be (feat. Jess Glynne) [Jack LNDN Remix]

artworks-000080150996-0znhx0-t500x500

Clean Bandit

Rather Be (feat. Jess Glynne) [Jack LNDN Remix]

Rather Be Remixes Part 2

——–

Hồi khi một người bạn cho nghe bản gốc bài này, mình cũng khá thích. Một bài hát theo xu hướng house-pop mà Disclosure đã giúp hâm nóng lại sau thành công vang dội của “Latch” (hiện tại đang Top 10 tại Billboard Hot 100!). Tuy theo xu hướng, Clean Bandit cũng biết thêm “mắm muối” để single của mình có hương vị riêng và tránh bớt đi những so sánh không cần thiết. Ở nửa đầu, production chỉ bao gồm vocals của Glynne và những tiếng synth líp bíp. Đến tận sau đó mới có sự xuất hiện của synth bass, piano và phần violin lả lướt khiến bài hát nghe như nhạc remix của Owen Pallett.

Bản remix của Jack LNDN giữ đúng 2 yếu tố rất hay từ bản gốc: phần vocals của Jess Glynne và phần giai điệu chính. Tất cả những gì Jack LNDN làm là trong khi giữ lại cảm giác “mùa hè”, họ đổi phong cách house-pop của bản gốc thành trance/deep-house. Phần production mới nghe dày lẫn mềm mại hơn, mà cách chia xếp vocals cũng thú vị hơn rất nhiều. Bên cạnh cái  nhiệt huyết mà Glynn đem lại, có khá nhiều đoạn background vocals rải rác xuyên suốt tạo thành những tiếng chant hào hứng – như kiểu bạn đang nhảy nhót ở biển và có tiếng bạn bè xung quanh cười nói không ngừng. Đến đoạn bridge khi tiếng synth bập bùng to dần, “Rather Be” nổ phát cuối cùng với những câu “No place I’d rather be!” lập đi lập lại cho đến khi tiếng hát nhỏ dần. Chỉ là những kĩ thuật đơn giản vậy, bản remix này của “Rather Be” vẫn làm đúng như những gì bản gốc từng làm: hy vọng, hạnh phúc và lạc quan cho người nghe – và đấy là tất cả những điều mình muốn nghe ở một track nhạc dance cho mùa hè.

——–

8

——–




ALBUM REVIEW IN 2014

Photobucket Photobucket Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 226 other followers