26
Jan
12

Note #1 – End of 2011/Beginning of 2012

Designer:  Toxic144

Quái Vật Tí Hon (Tiny Monsters) | CÓ MỘT MẶT TRỜI | Đừơng Về | 9/10 | Youtube | 2011

Kể từ Đối Thọai ’06 của Hà Trần, hiếm có một album nhạc Việt nào mà lại hòan thiện từ ý tưởng, hướng đi âm nhạc, cho đến cách thực hiện như Đường Về. Trong khi Đối Thọai là kiểu album muốn vươn xa trong tầm nhìn và âm thanh, Đường Về lại muốn làm hòan hảo dòng alternative rock (điển hình là alternative của thập niện 90s) với ảnh hưởng rõ rệt từ cả ambient lẫn experimental.

Trong rất nhiều bài xuất sắc từ album, “Có Một Mặt Trời” có lẽ là bài hay nhất. 5 phút sâu lắng và tràn đầy hạnh phúc của một người đàn ông vừa lên chức bố gửi cho con mình của bài hát là 5 phút có thể khiến bạn đặt niềm tin lại vào nhạc Việt. Ngay từ phút đầu tiên, cái cách ban nhạc khai thác hiệu ứng của studio cũng như chỉ để tiếng guitar rải rác thể hiện ngay họ biết cách làm ambient như thế nào. Rồi đến khi tiếng strings len vào ớ phút 2:58 hay tiếng trống mềm mại và electric guitar bắt đầu vào 3:29,  mọi thứ chỉ cảm thấy rất chắc, rằng đây là một ban nhạc rất hiểu chính mình và họ biết cách phối khí thế nào cho giai điệu bài hát luôn được tỏa sáng.

Nhưng cái đặc biệt nhất ở đây vẫn phải là phần lời và phần vocals của anh Công Hải. Có điều gì đó về cách hát của anh chỉ đem lại một sự tha thiết đến bất ngờ cho bài hát. Anh hát như anh cảm thấy như vậy, như anh muốn nói như thế, thay vì phải gằn gào đau đớn cho ra cảm xúc như những chàng trong Top 10 của Zing. Qua cả phần lời, QVTH tránh được cả hai điều rất thường thấy của nhạc Việt: sáo rỗng và khô khan. Những câu như Niềm hạnh phúc đầu tiên là em đó, rồi Em cho anh một mặt trời bé nhỏ hay Con là mặt trời mẹ dành cho cha  đều không phải là những câu nói siêu phàm hay văn học cao xa gì. Đây chỉ là những lời hát đầy chân thành được viết cẩn thận, được trình bày bởi một người thật sự “thấm” những gì mình viết, và chỉ đơn giản thế, “Có Một Mặt Trời” tỏa sáng.

 Azealia Banks | NEEDSUMLUV  | 8+/10 | Youtube

Đến 2012, “212” không còn chỉ là single giới thiệu Azealia Banks đến với mọi người nữa. Từ việc Banks thẳng thừng chỉ mặt Kreyshawn (một hiện tượng youtube khác) bảo “You’re a dumb bitch. And you can’t rap…I’ll sit on your face“, đến lườm mặt Nicki Minaj cho rằng cô này giỏi thì giỏi nhưng “What else can you do?” . Vì thế, dòng lyric kinh điển I’mma ruin you, cunt giờ nghe như một lời tuyên bố chiến tranh của Banks gửi đến tất cả những người cô không ưa. Toàn câu gây sốc thế nhưng cuối cùng cũng chả ai phản đối gì vì “212“, “Liquorice“, “Grand Scam (Lyrical Excercise)” đều có từ hook, flow tuyệt vời, production mới mẻ, và Banks luôn ẩn chứa một cái bố láo hóm hỉnh lẫn khôn ngoan trong cách dùng vần.

NEEDSUMLUV“, single mới nhất của Azealia, là nơi để cô quay về cội nguồn (Banks là sinh viên trường Nghệ Thuật) và thể hiện tài năng của mình trong vai trò vocalist. Khi cô gửi tin nhắn lên twitter nói rằng: “Bài này R&B thôi, nhưng rất progressive,” có vẻ như cô đang muốn fan thông cảm cho mình. Ai cũng muốn Banks tung ra một bài ngang ngửa “212” với phần rap một chín một mười như Nicki, nhưng nếu R&B bây giờ mà nghe được như “NEEDSUMLUV” thì cũng đỡ. Dùng production của Machinedrum (chính xác là “SXLND” của anh này), “NEEDSUMLUV” là một hỗn hợp thông minh giữa Footwork, UK Funky và rhythm đứt đọan của R&B đương đại. Tuy bản thân không nghe ra phần sample “One In A Million” của Aaliyah, bài này thật sự gợi nhớ đến kiểu R&B lạ lùng của Missy-Timbaland-Aaliyah vào thập niện 90: quái đản trong nhịp lẫn beat, production nghe không giống ai và đầy đủ bất ngờ từ đầu đến cuối. Bạn không cần phải chờ 2012 kết thúc mới nhận ra một điều: Azealia Banks rất có thể sẽ là tài năng mới nổi bật nhất năm.

 Chairlift | I BELONG IN YOUR ARMS | Something | 8/10 | Youtube

Quay về quá khứ để tìm cảm hứng không còn là chuyện xa lạ đối với nền âm nhạc hiện tại. Ta có Cults làm một album tràn ngập hương vị girl-group của những năm 60, Girls tìm về surf-rock của 70, Destroyer thì ngây ngất trong nhạc jazz và soft-rock, Yuck nghe hệt như một ban nhạc indie rock của 90…Những ban kể trên nói chung, hay Chairlift nói riêng, đều để âm nhạc của các thế hệ trước lộ rõ trong album của mình, nhưng họ vẫn tìm tòi cái mới lạ, đưa những âm thanh với sự trợ giúp của công nghệ mới để cho mình một nét riêng, một chỗ đứng trong làng nhạc.

Với Chairlift, đó là cách họ làm lại nhạc pop của thập niên 80 với lối nhìn và tư tưởng hiện đại hơn. “I Belong In Your Arms“, một trong những highlight từ album rất hay mới ra của nhóm Something, lấy cái lãng mạn đầy rộn ràng thuở nào của Cocteau Twins để dung hợp với synthesizer, trống mang âm hưởng new wave và phần bassline nghe rất post-punk. Họ để những ảnh hưởng này nhảy chồm vào nhau, trở thành bạn, và kết quả là một bài hát với texture rực rỡ trong muôn vàn tiếng động. Vocalist Caroline Polachek thật sự đã trưởng thành hơn rất nhiều từ album đầu Chairlift: Does It Inspire You. Cô hát với cái thuyết phục của Feist, một chút mơ màng của Elisabeth Fraser, và một cái gì đó ngỗ nghịch hơn trong cách ngắt câu. Từ cách kéo dài tiếng “I” trong điệp khúc, đến khi hát giả thanh để giọng mình tan chảy vào phần nhạc, hay chỉ là những lớp ah ah ah gần cuối. Những điều đơn giản vậy đem “I Belong In Your Arms” vượt ra khỏi cái mác tình ca bình thường, và rồi, bài hát chỉ đọng lại trong tim người nghe như một lời tuyên bố cho tình yêu đầy lạc quan nhất của 2012.

 Grimes | GENESIS | Visions | 8+/10 | Youtube

Tất cả những gì bạn cần biết về Grimes: nàng tên thật là Claire Boucher, nàng điên cuồng vì K-Pop, và nàng luyện giọng bằng cách nghe Mariah Carey (điển hình là bản classic “Heartbreaker“). “Genesis“, single thứ 2 từ album sắp ra lò Visions tiếp tục giới thiệu kiểu pop lạ lùng nhưng lại rất đáng yêu của Grimes. So với single trước đó “Oblivion“, “Genesis” không khác quá nhiều trong cách Boucher chọn âm thanh. Bắt đầu trong tiếng bassline quen thuộc, giọng hát nghe khá trẻ con và phần nào mộng mơ của Grimes cứ bồng bềnh lên xuống với tiếng synth tí tách đặc chất Á Đông. Lời hát trong “Genesis” chỉ bao gồm mỗi My heart will never be/Never fall/Never knew, nhưng sự đơn giản trong lyrics như thế lại góp phần giúp “Genesis” thành công hơn, vì bài hát dường như nhằm để gợi lên cái ngây thơ của lúc mới yêu thay vì muốn nhấn mạnh một thông điệp hay câu chuyện nào đó. Và bên cạnh cách Grimes tài tình cho phép mỗi âm thanh, mỗi instrument trong bài đủ chỗ để “thở”, cô hoàn thiện phần còn lại bằng việc truyền tải như một nhân vật đến từ thế giới cổ tích: đầy gần gũi lẫn đầy sắc màu.

———-

Download tại

VNNTBITCHESLUL.TUMBLR.COM

13
Jan
12

SOTW: Björk – Cocoon (2001)

 Bjork | COCOON | Vespertine | Youtube 

Sau masterpiece Homogenic vào năm 1998, Bjork không còn đơn giản là người tiên phong trong việc đưa cái avant-garde, cái lạ vào pop, mà chị đã trở thành một điển hình của sáng tạo và là nguồn cảm hứng cho vô vàn các nghệ sĩ trẻ khác. Vì thế trước khi album kế Vespertine được phát hành, đã có rất nhiều mong đợi từ cả fan lẫn các nhà phê bình.  Nhưng thay vì tiếp nối trong việc tìm tòi các âm thanh lạ, xây dựng bài hát với beat điên lọan và táo bạo hơn, Vespertine là khoảnh khắc riêng tư nhất và cũng có lẽ là album đẹp nhất trong sự nghiệp của Bjork.

Cocoon“, single cuối cùng từ Vespertine, thay đổi ấn tượng của tôi đối với Bjork rất nhiều. Trong PostHomogenic, lyrics của Bjork thường khắc họa những cảm xúc chân thực và rất “con người” qua những hình ảnh mạnh mẽ và nghộ nghĩnh; từ ném đủ mọi vật xuống vực núi để có thể quay lại với một trái tim mới (“Hyperballad“) đến nói rằng việc xa cách một người cảm giác như trái tim dần tan thành một cuộn chỉ trong tay quỉ dữ (“Unravel“).

Cocoon” không giống thế vì bài hát ngay từ đọan đầu tiên đã rất thẳng thắn trong ý nghĩa. Theo cách hiểu của riêng mình, “Cocoon” kể về một đêm ân ái với một người lạ. Cô gái đã sẵn sàng cho những gì sắp xảy ra: rằng đêm sẽ hời hợt trong ham muốn nhục dục, và khi mở mắt thì hai lại quay về một. Nhưng rồi cô ấy ngạc nhiên vì tất cả: người lạ kia đã rất dịu dàng, anh kia đã chẳng nhón chân ra khỏi người, anh vẫn nhìn cô bằng cái ấm nồng của đêm trước, và cái cảm giác hạnh phúc bất ngờ ấy đột ngột tuôn trào như những dây chỉ quyện vào nhau như cách một chú sâu làm kén (cocoon).

 Một đề tài như “Cocoon” rất dễ trở nên thô tục cho nên ngay từ tiếng động đầu tiên, Bjork đã tạo ra cả thế giới bồng bềnh trong những đọan synth nghe như côn trùng ngọ nguậy, tiếng xáo bài lạc xạc, và cả những âm thanh thủy tinh trong suốt để đem một cái ngây thơ trìu mến cho nhân vật trong bài. Không những thế, phần trình bày của Bjork trong “Cocoon” có lẽ là một trong những màn vocals tuyệt vời nhất trong sự nghiệp của mình. Chị gần như rút mọi cái nặng ra khỏi câu chữ, và để bài hát trôi nhẹ như một chiếc lông vũ. Bản thân sẽ mãi không bao giờ quên cách chị hát Who would have known ở gần cuối. Chị nghe như muốn vỡ òa trong hạnh phúc, nhưng chị kìm nén và cho phép bản thân chìm lặng vào cái đẹp của giây phút ấy. Chỉ 3 câu, chị thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau mà nhiều người cần gào thét luyến láy đến lố lăng trong cả một album mới nói ra cho hết. Ngay trong “Cocoon” nói riêng và Vespertine nói chung, Bjork dập tan những định kiến cho rằng kiểu hát của chị chỉ dựa vào cách thay đổi dynamics. Nhưng phá đi những phê bình kia có lẽ không phải là chủ ý của Bjork khi làm album này, mà chỉ đơn giản  là chị muốn tâm sự về cảm giác của bản thân, những cảm giác gần gũi và chân thực cho dù cách chị bày tỏ có lạ lùng đến đâu.

——–

Download tại:

 http://vnntbitcheslulz.tumblr.com/

Facebook của blog:

FACEBOOK PAGE

 

09
Jan
12

SOTW: Mazzy Star – Fade Into You (1994)

 Mazzy Star | FADE INTO YOU | So Tonight That I Might See | Youtube

Fade into you/Strange you never knew/Fade into you/I think it’s strange you never knew….

Dream-pop là dòng nhạc được phân lọai thông qua cảm giác, kết cấu (texture), và không khí (atmosphere) hơn là qua nhạc cụ nào được dùng. Một đặc điểm chung của dream-pop thường là cảm giác bay bổng (ethereal), mơ màng (hazy) và thường tìm cái khoảnh khắc “ảo mộng” qua âm thanh như từ “dream” trong dòng nhạc gợi ý.

Mazzy Star là một trong những bộ đôi dream-pop của Hoa Kì vào đầu thập niện 90 và họ từng khá nổi một thời với hit “Fade Into You“. Nếu đổi phối khí, bài hát nghe không khác một bản nhạc Country là bao, nhưng trong cái cách bài hát cứ chậm rãi, từ chối một cao trào nhất định, rồi cả những đọan pedal-steel cứ vang vọng và trong cách piano và drum như đang khiêu vũ với nhau, “Fade Into You” cứ lơ lửng giữa cảm giác tan dần ra và bừng sáng trở lại.

Nói đến Mazzy Star và thành công của đĩa đơn thì không thể không nhắc đến giọng hát tuyệt vời của nhóm: Hope Sandoval.  Nhiều ca sĩ chính của các ban dòng dream-pop thường chính là điều phân biệt giữa thế giới âm sắc của họ và các nhóm khác. Ở Beach House, đó là giọng hát sương khói của Victoria Legrand. Ở Cocteau Twins là cách Elisabeth Fraser thả mình hát bất cứ âm thanh gì mình thích thay vì phải chèn ép bản thân vào một ý nghĩa nhất định. Còn Mazzy Star, đó là cách hát trầm tư nhẹ bổng như hơi thở của Sandoval và cách kể chuyện lặng lẽ nhưng đầy cuốn hút của mình.

Qua nhiều năm, Mazzy Star không cố thay đổi hình ảnh hay phong cách âm nhạc. Kể cả single mới “Common Burn” mà ban nhạc vừa ra trong 2011 cũng không khác với những gì họ làm trong những năm 90 là bao.  Điều đó có lẽ lại là tốt vì khi mà trong một thời điểm các nghệ sĩ đang liên tục tìm tòi những âm thanh mới và  lạ, cái nhẹ nhàng như muốn tan cả ra của Mazzy Star là một nốt trầm đáng hoan nghênh.

~ Pauler

——————

Download tất cả các bài hát tại

http://vnntbitcheslulz.tumblr.com/

————–

Thêm nữa: Blog VNNTB bây giờ đã có trang Facebook. Chúc vui :D

http://www.facebook.com/pages/Vietnams-Next-Top-Bitches/170094219758878

08
Jan
12

SOTW: Dusty Springfield – Son of a Preacher Man (1968)

Song Of The Week là chuyên mục mới của VNNTB trong 2012. Mỗi tuần sẽ blog sẽ giới thiệu một bài trước 2000, một bài của thế kỉ 21, và một bài nhạc Việt. Thay vì làm Best Old Music như lúc trước, SOTW sẽ là nơi chia sẻ những bài hát, những giai điệu, những nghệ sĩ đã ảnh hưởng đến staff của VNNTB  trong hành trình âm nhạc của riêng mỗi người. Ở đây cũng xin chào mừng hai cây viết mới cho website: nsphuoc  (nsphuoc.wordpress.com ) và T. Hieu 

 Dusty Springfield | SON OF A PREACHER MAN | Dusty in Memphis | Youtube 

Son of a Preacher Man hát bởi Dusty Springfield năm 1968 có lẽ là một trong những bản nhạc soul rực rỡ nhất từng được thu âm. Nằm trong album Dusty in Memphis của nữ ca sĩ người Anh Dusty Springfield, Son of a Preacher Man ban đầu được đưa cho Aretha Franklin để thu âm, nhưng Aretha đã từ chối nó. Một vài năm sau, nghe bản của Dusty, Aretha quyết định thu âm một bản của riêng mình.

Với một chất giọng đặc biệt trần tục nhưng không dơ dáy, Dusty là một trong những nữ ca sĩ nhạc soul người da trắng quan trọng nhất. Là nữ ca sĩ thành công nhất trong cuộc British Invasion (âm nhạc của Anh đổ bộ lên đất Mĩ), Dusty cũng là người đầu tiên ở Anh Quốc đưa nhưng ca sĩ nhạc soul ít được biết đến tại đây lên trước công chúng (Dusty là một người hâm mộ âm nhạc Motown ở Mĩ).

Có lẽ nhiều người sẽ nhớ đến bài hát này như là soundtrack của Pulp Fiction, đoạn Mia bước vào nhà cô ta cùng với Vincent. Mình thì sẽ nhớ đến Pulp Fiction như là một film đã [dám] cho bài hát này vào làm soundtrack.

Có lẽ đây sẽ là bài hát duy nhất được giới thiệu của Dusty trong topic này. Tuy không luôn được viết cho những bản nhạc tuyệt vời nhất, Dusty vẫn luôn là một hình mẫu tiêu biểu cho những giọng hát tuyệt vời nhất.

Son of a Preacher Man là một bài hát có một âm hưởng vừa ngọt dịu, vừa kích thích cũng như nổi loạn. Giọng hát của Dusty mềm và xốp trong những đoạn hát: Billy Ray là con trai cha đạo, và khi ông ta đến nhà tôi thuyết giáo, Billy cũng ghé đi theo. Khi cha đạo đang mải thuyết giáo, đó là lúc Billy đưa tôi đi dạo, lẻn ra sân sau chúng tôi cùng bước.

Và không thể không kể đến tiếng nhạc trong bài hát, rất khêu gợi và xuyên suốt. Ngay khi mở đầu, xuất hiện một âm thanh khá lạ cho một bản nhạc thông thường, một thứ gì đó bí ẩn, lởn vởn và đen tối. Tiếng kèn kéo ra dầm rì trong những đoạn Dusty miêu tả về cuộc tình của mình với Billy Ray, con trai cha xứ. Đến những đoạn khi bắt đầu có dấu hiện lén lút và gợi ham muốn, tiếng kèn sẽ tỏ dấu hiệu câu chuyện trờ nên kịch tính hơn bằng cách phát ra một cách tự phát, bất ngờ, trở nên mạnh dần, và dài ra réo rắt. Tiếng bass như nhịp tim của nhân vật chính trong bài hát, thập thình, nhè nhẹ rồi đập nhanh và mạnh dần. Hay thậm chí chỉ là một âm thanh của tiếng piano, tiếng gảy guitar rất ngắn gọn, như một ý nghĩ nhanh chóng thoảng qua trong đầu, có thể nói lên rất nhiều điều. Âm thanh mạnh dần, mạnh dần, và chuyển đến chorus:

The only one who could ever reach me was the son of a preacher man.
The only boy who could ever teach me was the son of a preacher man.

Và Dusty kết lại chorus với tiếng thở: “yes he was, he was, mmm, yes he was“.

Khi đến đọan nối (bridge), tiếng nhạc xoay chuyển, nở hoa, và giọng của Dusty cũng mạnh dần lên, tất cả kéo đến một góc chuyển kịch tính cuối đoạn bridge, cảm xúc khát khao cũng như sự thèm muốn dục vọng được đưa đến một điểm cao trào. Và rồi tất cả lại chuyển đến chorus, rồi chorus lặp lại, chỉ khác lần này chorus trở nên như một cuộc liên hoan thật sự. Sự kìm chế tan biến. Và rồi giọng Dusty tan dần, tan dần nhưng sự hoan hỉ vẫn kéo lại dài phía sau.

Son of a Preacher Man là một sự hoàn hảo trong sự kết hợp của production với giọng hát đầy tính sensual của Dusty. Son of a Preacher Man không chỉ cục cằn đưa ra những hình ảnh mà nó gợi tả lên những ý nghĩ và những sự mê đắm nồng nàn. Nghe bài hát, ta không chỉ cảm thấy sexy, không cảm thấy tội lỗi mà còn vui sướng và nổi loạn.

Bản thu âm của Aretha, dù cho cô có là một ca sĩ tuyệt vời đến thế nào, gần như thiếu tất cả những gì đã tạo nên của sự tuyệt vời và chí khí của bản thu Dusty. Bản của Aretha thiếu đi sự ngây thơ, và sức sống mãnh liệt của một cô gái lần đầu biết đến tình yêu, hơn nữa là một tình yêu trái khoáy. Một sự kìm nén giữa một tham vọng không thể cưỡng chế. Aretha có thể hét hàng nghìn lần to hơn nữa, cũng không thể đánh lại giọng hát thì thầm và mềm mại của Dusty.

Tại sao một giọng hát êm ái và dịu mát thế lại có thể đưa sức lửa vào trong bài hát đến vậy? Sự tương phản giữa sự hoang dại, ngây thơ trong giọng hát của Dusty với một chủ đề nổi loạn, có phần hài hước, góp phần khiến cho bài hát càng trở nên rất tương phản, nhưng chưa bao giờ mâu thuẫn. Kết quả là một bài hát khiến ta chỉ muốn được là một phần trong đó, trong cuộc tình lãng mạng này.

Dusty đã cho ta thấy cô có khả năng như thế nào với album Dusty in Memphis, dù chưa hẳn là absolute perfection đối với khả năng của cô, nhưng là một món quà quý giá với người nghe nhạc. Album vẫn luôn được đánh giá là một trong những album tuyệt vời nhất từng được sản xuất.

~ T. Hieu

Download bài hát ở vnntbitcheslulz.tumblr.com.




Coming up Next

2012

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------