26
Mar
17

Best of 2017: Twinkly Tus – LALALA (pacmxn Remix)

Twinkly Tus x pacman

Twinkly Tus 

LALALA (pacmxn Remix)

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác và thể hiện bởi Twinkly Tus, phối khí bởi pacman

Thu âm, sản xuất và master bởi Twinkly Tus và pacman

Kể từ khi Disclosure dung hợp một cách sắc sảo UK Garage/2-Step với các giai điệu bắt tai của Pop/R&B trong album đầu tay Settle, họ trở thành “động lực” vô hình để thúc đẩy các producer của giới underground bắt đầu những thử nghiệm tương tự. Ranh giới giữa những gì được coi là “thương mại” (mainstream) và “độc lập” (independent) ngày càng mờ đi; một ca khúc với phối khí Future Bass trong khi giai điệu lại đặc sệt R&B/Soul bây giờ hoàn toàn có thể được coi là tiêu biểu ở cả hai phía. Nhưng không phải thử nghiệm Future Bass/R&B nào cũng thành công và chính Disclosure cũng lập lại được những phép mầu tương tự trong các sản phẩm kế tiếp. Tại V-Pop, từ những bài đứng đầu Zing MP3 hay những bài chỉ có vài trăm lượt nghe trên Soundcloud,  cách dung hợp này cũng đã trở thành một trong những xu hướng “nóng” nhất trong vòng hai năm trở lại đây. Và nếu năm ngoái có những “Cơn Mưa Hiếu Kỳ“, “I’m Not Okay” và “Anh Là Của Em“, đại diện xuất sắc đầu tiên của năm nay thuộc về bản remix “LALALA” của Twinkly Tuspacman

Trái với ba ca khúc được đề cập, điều khiến “LALALA” nổi bật không nằm ở phần phối khí hoặc cấu trúc mà nó nằm ngay ở phần sáng tác và thể hiện của Twinkly Tus. Thứ nhất là mặt lyrics, Tus bỏ đi gần hết các “lối mòn” có thể ta có thể bắt gặp vì những từ cô chọn để gieo vần đều là những mô-típ ít khi bắt gặp trong nhạc phổ thông. Nhưng trên tinh thần làm một anthem cho việc “yêu bản thân”, Tus không hề phức tạp hóa lời ca mà thay vào đó, cô vừa giữ cho chúng bất ngờ (Afraid that you would frown/So I’m Passive like a noun) vừa giữ phần nội dung dễ tạo đồng cảm với nhiều người (You feed me your wish/Then condemn me selfish). Thứ hai ở phần trình bày, Tus có những lựa chọn rất sáng tạo trong mặt rhythmic và timing; cô ngắt câu bất ngờ, đôi khi bỏ đi nhịp và chơi đùa với phần phối khí qua cách hát jazzy của riêng mình. Trên nền dàn dựng khá thẳng thắn và chứa đựng sự đơn giản hợp lý, Tus cho bài hát tất cả những điểm nhấn cần thiết và điều đó quan trọng bởi vì “LALALA” không phải là một ca khúc mang hook mạnh mẽ. Nó lôi cuốn bởi vì pacmxn Twinkly Tus hợp tác ăn ý với nhau, và vì họ hiểu được khi một yếu tố trong bài có cá tính nổi trội như thế, những yếu tố còn lại cần ở trạng thái trung hòa để cả hai không choảng nhau đến chết.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

12
Mar
17

Best of 2017: Madihu – Người Mai Dịch Cô Đơn (feat. Vũ. & TRANG)

Madihu

MADIHU

Người Mai Dịch Cô Đơn (feat. Vũ. & TRANG)

Người Mai Dịch Cô Đơn EP

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sản xuất bởi Madihu, vocals từ Vũ. và TRANG

Một trong những yếu điểm của EP Người Mai Dịch Cô Đơn nằm ở việc không có sự hòa hợp giữa ca sĩ và phần production. Ví dụ như “Trôi Về Đâu“. Khi bài hát bắt đầu bằng âm thanh cũ kỹ của máy chiếu phim, những tiếng hát đầu tiên tạo ngay lên cảm giác tăm tối, mông lung và moody mà Portishead từng thực hiện quá chuẩn trong album Dummy. Nhưng ngay sau đó, phần trình bày của Hà Linh hoàn toàn mất hút vào những âm thanh điện tử và “Trôi Về Đâu” cũng thiếu một phần giai điệu đáng nhớ để bù đắp cho thiếu soát đó. Ở trường hợp khác, khi Madihu nối kết những giọng hát có thể nắm bắt được phần production (Vũ.Ngân Hà trên “Hai Người Xa“) thì những câu hát lủn củn bằng tiếng Anh lại phá đi cái mood lẫn atmosphere mà phần production đang cố xây dựng (So now you’re trying to say that you’re about to stay/Oh, what makes us alive/Hell no, hell no).

Vì thế, lí do bài hát cùng tên “Người Mai Dịch Cô Đơn” (“NMDCĐ“) là bài hay nhất toàn EP vì bởi duy nhất ở đây, Madihu tìm ra được công thức chuẩn xác giữa ca sĩ, sáng tác và production cho hướng đi âm nhạc pha lẫn Lounge, Trip-Hop và Electronic của mình. Sử dụng phần string giả lập để làm nền chính,  nhóm xây dựng  (“NMDCĐ“) qua chỉ một vài âm thanh (đoạn drum thưa thớt hay những tiếng percussion đơn lẻ) nhưng họ đảm bảo mỗi yếu tố đều góp phần vào việc tạo ra một không gian mênh mang cho bài. Trên phần production lạnh lẽo và ai oán như vậy, Vũ.TRANG là các lựa chọn hoàn hảo vì mỗi người đều sở hữu những giọng hát có khả năng truyền tải mặt cảm xúc tốt và bên cạnh đó, âm sắc của cả hai có một “sức nặng” nhất định để đứng vững qua từng chord progression của phần sản xuất. Tuy vẫn có một vài chi tiết nhất định mà  “NMDCĐ” làm chưa tốt như phần lời hoặc đoạn break giữa các verse, những khía cạnh còn lại đều hòa hợp với nhau rất ăn ý để hình thành một sự mạch lạc hiếm thấy đối với dòng nhạc này tại Việt Nam. Và đúng là EP Người Mai Dịch Cô Đơn chưa có được sự hoàn thiện như mong đợi, bài hát cùng tên được đề cập vẫn đủ là lí do để bạn thử nghe qua sản phẩm âm nhạc này.

_ _ _ _ _ _ _ _ _  _

Pauler

11
Mar
17

Single Review: Soobin Hoàng Sơn – Đi Và Yêu

di-va-yeu-soobin

Soobin Hoàng Sơn

Đi Và Yêu

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi Phạm Toàn Thắng, dàn dựng và phối khí bởi Andre Ngo, trình bày bởi Soobin Hoàng Sơn

Điều đáng chú ý nhất về “Đi Và Yêu” không nằm ở Soobin hay Phạm Toàn Thắng, mà nó nằm ở sự hiện diện của Andre Ngo trong vai trò phối khí. Là một tay chơi guitar cừ khôi cũng như là một nhà sản xuất bậc thầy qua cách anh soạn lại các bài như “Lose Yourself” (Eminem), “D.A.N.C.E” (Justice) hay nổi bật hơn hết thì có “Bay” (Thu Minh), Andre Ngo chưa bao giờ làm hẳn sang Pop 100% như cách anh thực hiện “Đi Và Yêu“. Đúng là có một vài ngoại lệ như những bài anh thực hiện cùng Tiêu Châu Như Quỳnh, nhưng so với mặt bằng nhạc Việt nói chung thì “Trôi Về Ngày Cũ” hay bản mashup “Gạt Đi Nước Mắt“/”Em Của Ngày Hôm Qua” vẫn nghe như những người ngoại đạo.

Về mặt phối khí tổng thể, “Đi Và Yêu” khá đơn giản. Mặt instrumentation của các nhạc cụ thường gặp được thực hiện với một tinh thần groovy, thong thả và nhẹ nhàng – những cảm giác mà phần sáng tác rõ ràng muốn hướng đến. Bên cạnh đó, Andre cũng mang lại những âm thanh điện tử (tiếng riff xuất hiện đầu bài và được dùng cuối mỗi câu phần refrain) để mang lại tính funky cho câu hook “Đi thật xa xa xa, yêu lại gần hơn“. Tuy vậy, ngoại trừ đoạn nối mà ở đó Andre Ngo bắt đầu thoải mái với chút ảnh hưởng của French House mà ta từng bắt gặp ở “One More Time” (Daft Punk), phần lớn của “Đi Và Yêu” vẫn còn dè dặt và cẩn trọng trong cách bài hát được phát triển. Thậm chí khi cả những đoạn vocal sample hò reo trong đoạn điệp khúc cuối cùng, rồi cả âm thanh của tambourine xuất hiện, “Đi Và Yêu” thật ra vẫn còn đi rất “gần” và tình yêu mình dành cho bài hát thì vẫn còn rất xa.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Điểm số: 6/10

Damen H.

10
Mar
17

Best of 2017: MIN – Gọi Tên Em (KHÙNG Remix)

min - khùng remix

MIN

Gọi Tên Em (KHÙNG Remix)”

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi Kai Đinh, phối khí và dàn dựng bởi KHÙNG, vocals từ MIN

Bản gốc của “Gọi Tên Em” bám theo những quy trình đã có sẵn từ lâu của nhạc Pop. Từ một sáng tác dễ thương với phần giai điệu sáng sủa của Kai Đinh, Khắc Hưng phát triển bài hát bằng cách thêm dần những instrumentation mạnh mẽ hơn trong âm lượng qua mỗi phân đoạn. Mở đầu từ phần vocals được nâng đỡ trên nền trống nhẹ nhàng, chút piano này chút guitar kia điểm xuyến, Khắc Hưng sau đó làm “dày” phần không khí bài hát với lớp vocals đệm và qua một đoạn break nhỏ bằng piano break, anh chạy về đích qua sự kết hợp mạnh mẽ của phần kèn và phần trống giả lập. Việc sắp xếp  cặn kẽ và tính toán đến từng li từng tí khiến “Gọi Tên Em” nghe như một câu trả lời đóng khung được trình bày gọn gàng nhưng dễ đoán. Vì vậy,  cho dù bản remix của KHÙNG không thay đổi mấy cấu trúc bài hát, nó tận dụng hiệu quả hơn phần sáng tác lẫn phần trình bày bằng việc ít đi vào những con đường “dễ đoán” nói trên.

Trước hết, bản remix của KHÙNG bỏ hết những lựa chọn instrumentation ủy mị. Không còn guitar lung linh hay piano buồn man mác, KHÙNG mở đầu bài hát qua sample tiếng mưa rơi và ngay sau đó anh kết hợp phần vocals của MIN trên những đoạn chord đứt quãng lạnh lùng. Điều này cũng chính xác cho các lựa chọn instrument được xuất hiện sau đó: mỗi âm thanh đều ngắn gọn, lãnh đạm và chúng trở thành tương phản hoàn hảo cho giọng hát nữ tính ngọt ngào kia. Trong khi bản gốc loay hoay để tối đa hóa tính gần gũi của một bản nhạc pop, bản remix lại khai thác được ngay cảm giác đó bằng việc chọn instrumentation hợp lý hơn, biết tối giản hóa khi nào (cả hai phần verse lẫn phần harmony) và biết nên làm “dày” phần sản xuất khi nào. “Gọi Tên Em” là một sáng tác ổn, không thật sự xuất sắc và cũng không bị chìm sâu vào vũng lầy “sến súa” của V-Pop. Nhưng qua bàn tay xuất sắc từ KHÙNG, anh biến nó thành một ca khúc pop đáng nghe: moody, sắc sảo và nối kết chặt chẽ các khía cạnh khác nhau của bài.

_ _ _ _ _ _ _ _ _  _

Pauler

09
Mar
17

Best of 2017: Dirty Projectors – Little Bubble (Album Version)

little-bubble

Dirty Projectors

Little Bubble

Dirty Projectors

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sản xuất bởi Jimmy Douglass & David Longstreth

Khi được Pitchfork phỏng vấn để nói về Bài Hát/Album Yêu Thích Nhất Của Thập Niên 2000’s, Dave Longstrength, thủ lĩnh của Dirty Projectors (DP), liệt kê album Confessions của Usher cũng như single “Burn” đình đám một thời. Tuy bản thân là một trong những tiên phong của nhánh Art-Rock/Experimental, Longstrength chưa bao giờ ngần ngại thể hiện tình yêu của mình dành cho nhạc R&B. “Stillness Is The Move“, bài hát biến DP thành sao hạng A của giới indie, nghe như kết quả nếu Aaliyah còn sống và hợp tác với Talking Heads. Không dừng lại ở đó, từ bản cover “Tell Me” của Groove Theory với Solange, bản cover “Climax” của Usher hay thậm chí quay về năm 2008, “Rise Above” vẫn có rất nhiều đặc điểm của R&B – tiêu biểu qua phần bè của AmberAngel.

Tua đến 2017, Dirty Projectors giờ đây không còn Amber hay Angel. Single mở đầu “Keep Your Name” thể hiện một thay đổi lớn trong âm nhạc kể từ Swing Lo Magellan: thử nghiệm với các kỹ thuật chỉnh pitch, rap và lyrics cũng mang tính tự sự hơn “(And you said) what I want from art is truth, what you want is fame“. Ngoài phần lời tạo nên vô số bình luận về việc Amber với Longstrength đã chia tay thế nào, “Keep Your Name” ngắn gọn mà nói là không hay. Nó có nhiều lựa chọn khó hiểu và thiếu những điểm thu hút sở trường của nhóm (harmony phóng qua lại như bóng bàn hoặc phần guitar sáng tạo). May thay, khi tưởng chừng DP đang dần trở thành cái bóng của chính mình, “Little Bubble” xuất hiện.

Little Bubble” có thể được xếp vào nhánh Alternative R&B từng rầm rộ một thời qua sự xuất hiện của các producer/ca sĩ tự làm R&B với instrumentation được xây dựng hoàn toàn qua âm thanh điện tử. Ở một khía cạnh nào đó, “Little Bubble” cũng như vậy. Nó sở hữu phần giai điệu R&B rõ nét nhất trong kho nhạc của DP, (How did you sleep?/What did you dream of?/Can you still remember?/Was it the key of love?) và Longstrength cũng bắt đầu thêm những đoạn ad-lib tương đối vào phần trình bày của mình. Điều khiến “Little Bubble” vẫn nghe rất DP nằm ở những thay đổi trong chord progression bởi Longstrength vẫn hay phát triển giai điệu qua những “lối đi” rất khó đoán. Anh miệt mài xây dựng từ verse qua pre-chorus nhưng lại cho phần điệp khúc nghe tối giản hơn bất kỳ phân đoạn nào.

Little Bubble” nói về cái kết của rất nhiều thứ: tuổi trẻ, hoài bão và ước mơ một thời của cả hai. Vì vậy, đến khi mỗi điều kết thúc, cảm giác Longstrength có cũng giống như bong bóng đã vỡ. Nhiều fan cho rằng sự góp mặt của Angel Amber làm nên phiên bản Dirty Projectors hoàn hảo nhất trong sự nghiệp của nhóm, nhưng giờ họ không còn thì Longtrength vẫn kiên trì làm ra một bài R&B xuất sắc như “Little Bubble” với toàn bộ vocals do anh đảm nhiệm. Một giấc mơ có thể kết thúc, nhưng cái thần của người nghệ sĩ, đặc biệt ở một người luôn ‘tham vọng’ như Longstrength, thì sẽ còn tiếp tục đi.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

http://www45.zippyshare.com/v/JowUd2S3/file.html

08
Mar
17

Best of 2017: Stormzy – Big For Your Boots

stormzy

Stormzy

Big For Your Boots

Gang Signs & Prayer

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi Michael Omari (Stormzy), dàn dựng bởi Sir Spyro và sản xuất/mixing bởi Fraser T Smith

Tuy quý 1 còn chưa kết thúc nhưng bạn có thể tin chắc rằng những gì Stormzy làm trong “Big For Your Boots” là một trong những màn biểu diễn hay nhất trong  nhạc rap của 2017. Khi Michael Omari (tên thật của Stormzy) đến gặp producer Sir Spyro để yêu cầu một bản instrumental theo phong cách old-school grime với những tiếng vocal sample giọng nữ được nâng pitch bởi phần lớn album Gang Signs & Prayer đã đi xa khỏi những âm thanh truyền thống của grime rồi (bản gospel “Blinded By Your Grace (Pt.1)” hoặc bản slow jam “Velvet/Jenny Francis (Interlude)“). Kết quả, Sir Spyro cho Omari chính xác những gì anh muốn: một đoạn loop vocal hát thánh ca được dùng làm bè đệm (những câu hah-hah-hah xuyên suốt), những tiếng vocal sample vang vảng (mở đầu bằng “in your town tonight“) và một thiết kế percussion ác nghiệt trong cả nhịp lẫn cấu trúc. Khát vọng hơn bao giờ hết, đặc biệt là sau khi Konnichiwa của lão làng grime Skepta thắng giải thưởng uy tín Mercury Prize vào năm ngoái, Stormzy lao đầu vào “Big For Your Boots” với một nguồn năng lượng gần như vô vạn. Anh làm cho đoạn hook “You’re getting way too big for your boots/You’re never too big for the boot” nghe catchy hơn bất kỳ bar nào trong 2017, giữ timing của mình trên phần nhịp bão bùng một cách xuất thần trong khi phần flow cứ càng lúc càng “dập” mạnh hơn giây trước đó. Bản thân là một MC nổi lên từ văn hóa underground qua những trận đấu rap nảy lửa bằng nhạc grime nhưng Stormzy vẫn dám khám phá các địa hạt R&B, Gospel và Soul trong album đầu tay của mình. Với kha khá mạo hiểm như vậy, “Big For Your Boots” đóng vai trò là bảo hiểm để nếu có gì, Stormzy vẫn còn  con át chủ bài để giúp tất cả nhớ lại vì sao họ đã “cuồng” anh đến vậy vào thời gian đầu. Và may thay, “Big For Your Boots” không chỉ là bài hát hay nhất album mà nó còn là một trong những single nhạc grime dữ dội nhất trong vòng vài năm nay.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

http://www59.zippyshare.com/v/tF7K3PJ3/file.html

05
Mar
17

Best of 2017: Lorde – Green Light

Lorde - Green Light.png

Lorde

Green Light

Melodrama

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi Ella Yelich-O’Connor (Lorde), Jack Antonoff và Joel Little

Dàn dựng và phối khí bởi Lorde, Jack Antonoff và Frank Dukes

Trả lời Beats 1, Lorde thổ lộ rằng “Green Light” nói về thời điểm sau khi toàn bộ cuộc sống của bạn bị đảo lộn, đôi khi bạn cứ hay bị cuốn về những thứ nhỏ nhặt tào lao nhất. Tương tự như câu hát cay nghiệt “Mẹ anh ai cũng thích. Có đúng em thì lại không“* từ “Love Yourself” (Justin Bieber), Lorde có một khoảnh khắc tương tự trong “Green Light” khi cô nghiến răng gằn giọng “Cô ấy nghĩ anh thích đi chơi biển. Trời ơi, sao anh láo như chó vậy“**. Phẫn nộ sau chia tay không có gì lạ, điều đó càng dễ hiểu với một cô gái mới 20 tuổi như Ella. Nhưng thay vì dành trọn vẹn bài hát để chỉ trích người yêu cũ, cô chỉ dành khoảng 1/3 để cho phép mình nổi giận, trước hết là trên nền đệm của tiếng piano và sau đó qua những đoạn synth quét qua như cơn lốc nhỏ. Ở 2/3 còn lại của bài hát, LordeAntonoff chơi một ván bài mạo hiểm nhưng rất thành công khi họ dịch chuyển qua một chord progression mới; qua phần piano riff gợi nhớ nhiều đến cách build-up ở old-school house, đoạn chuyển bắt đầu khi Lorde cho rằng cô không đủ mạnh mẽ để vượt qua được kết cục này (“But honey I’ll be seein’ you ‘ever I goBut honey I’ll be seein’ you down every road“), nhưng vừa dứt lời, đoạn chanting từ phần vocals đệm lại nói khác: cô đang đợi cho đèn xanh bật qua để đi tiếp và trong thâm tâm cô muốn điều đó xảy ra.

Trước khi bình luận về phần điệp khúc, phải khen cách dàn dựng cấu trúc của “Green Light“. Đây là một ca khúc có khá nhiều phần; nó đi qua tận 3 phân đoạn mang tính “xây dựng” khác nhau trước khi điệp khúc xuất hiện. Bởi vì phần điệp khúc mang một nguồn năng lượng rất mạnh mẽ, Lorde hết sức thông minh khi cô cắt độ dài của verse thứ 2 chỉ còn một nữa và đi hẳn vào 2 phần tương tự để nhảy qua điệp khúc nhằm tránh làm mất đi cái đà đang sẵn có của bài. Đến khi điệp khúc của “Green Light” bắt đầu, Lorde thật không hề sai khi nói đây là một bài hát nói nhiều về những cảm xúc tiêu cực, nhưng bạn hoàn toàn có thể nhảy theo nó được. Với một cao trào hay sẵn trong sự tối giản của nó, một lần nữa phải khen tiếp người dàn dựng phần vocals cho bài này bởi họ rất nhanh trí khi sử dụng kỹ thuật call-and-response (một người hát, người kia hát đáp lại) để cùng lúc cho 2 phần hook được đan xen qua lại. Cách làm giúp “Green Light” có một cao trào cần thiết để mang bài hát trở thành hits, và nó vừa đủ khác biệt để tách mình ra khỏi hàng loạt các bài hát Pop/Dance đang có mặt trên thị trường. Cho dù “Green Light” không khai thác những câu chuyện phức hợp hơn so với Pure Heroine, nó vẫn chỉ ra một sự trưởng thành bất ngờ từ một trong những ngôi sao nhạc pop tiềm năng nhất hiện nay.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler




ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------