18
Jul
15

Album/Live Review: Colin Stetson / Sarah Neufeld – Never were the way she was

Processed with VSCOcam with f2 preset

(Photo Credit: D.V)

By D.V

Tôi đi xem Colin và Sarah một tối cuối tháng tư, vào đúng ngày phát hành Never Were The Way She Was. Sân khấu giản dị, không hiệu ứng ánh sáng, tấm lụa in hình album chăng đằng sau phông nền. Colin áo xám quần xám và Sarah chọn một chiếc váy suông đen. Không chào hỏi cầu kỳ, sau khi check lại phần tuning của cây violin, Sarah khẽ gật đầu với khán giả và dạo những nốt đầu tiên của “The Sun Roars Into View” và sớm được hòa vào cùng bởi cây tenor saxophone của Colin, tạo nên một phần đối âm (counterpoint) hết sức đẹp đẽ. Viết review cho một bản ghi âm sau khi thưởng thức một buổi diễn live thăng hoa thường dễ gây ra khuynh hướng ca tụng quá đà. Nhưng với một album dòng classical đương đại như NWTWSW – cũng như nhiều tác phẩm thính phòng – nhạc cụ được phân vai và xác định rõ ràng khi sáng tác, lúc đấy ma thuật thường nằm trong phần trình diễn của người nghệ sĩ. NWTWSW được thu âm hoàn toàn sống và không sử dụng bất kỳ overdub hay loop nào.

Chứng kiến Colin và Sarah song tấu trong một không gian mở là một trải nghiệm gần gũi nhưng cũng lạ lẫm với NWTWSW, rất nhiều dynamics và chi tiết bị nhòa đi và mất hút khi các âm thanh vốn hữu cơ đã được số hóa thành các file nhạc điện tử mà ta vốn hay nghe. Nói vậy nhưng không thể chối bỏ NWTWSW là một album đầy rung động và hấp dẫn. Không cần phải nói nhiều về Colin Stetson vì người viết đã dành rất nhiều cảm tình cho album solo trước đó của anh New History Warfare Vol. 3: To See More Light (Bài review). Lý lịch âm nhạc của Sarah Neufeld cũng có khá nhiều điểm tương đồng như Colin, liên tục di chuyển giữa các địa hạt âm nhạc khác nhau không mấy khó khăn – indie rock/post rock (Arcade Fire/Bell Orchestre) và thính phòng/thể nghiệm (solo album năm 2013 – Hero Brother).

Thường với kỹ thuật xuất chúng, nghệ sĩ sẽ dễ dàng phá bỏ các lằn ranh trước đó vốn được mặc định cho nhạc cụ họ sử dụng, giới hạn duy nhất có lẽ là những đặc tính cố hữu của nhạc cụ (ví dụ đơn giản như một cây acoustic guitar không thể tạo những trường nốt dài như một cây violin). Khi được phỏng vấn trong dự án hợp tác trước đó, họ từng nói: “Chúng tôi khỏa lấp các yếu điểm cho nhau”.  Tuy vậy, sự kết hợp giữa saxophone và violin có lẽ là một ý tưởng hiếm thấy. Lạ thay, trong rất nhiều track (và đặc biệt trên sân khấu), tương tác âm – dương của hai nhạc cụ như được chơi trong cuộc đối kháng quyết liệt, nhưng vẫn đan bện, hòa quyện vào nhau chặt chẽ đầy hài hòa.

Tính nhám và thổ trong âm thanh của cây sax luôn được bổ trợ bởi sự bén gọn như kim loại của cây violin. Những khoảnh khắc mềm mỏng ngắn ngủi thường nằm trong các track ngắn hơn như “And Still They Move” hay track cuối “Flight“. Một trong những track xuất sắc của album – “In the Vespers” – hai nhạc cụ di chuyển qua hàng loạt các motif âm nhạc khác nhau, từ một điệu dance trong 4 phút đầu, khi motif của phần violin như giữ nhịp cho phần Colin cho đến khi anh tinh tế pha một chút beat vào, mô phỏng bộ gõ để cả hai nhạc cụ cùng chạm đến cao trào, rồi kết thúc khi phần aperggio của cây sax từ tốn chìm xuống đáy sâu và cây violin vang lên những hợp âm ai oán trong hai phút cuối. Ngược lại, trong “With the Dark Hug of Time“, phần bass rền, vang của cây contrabass clarinet được Colin chơi như cố định trong suốt 6 phút đối chọi với phần tremolo có phần xa vắng của violin. Kết thúc khi phần violin chạm những nốt cao nhất rồi vút bay mất, bỏ rơi lại cây clarinet với những tiếng rên xiết như của một con thú bị thương.

Track căng, đầy nhất của cả album có lẽ là “The Rest of Us“. Thật bất ngờ khi chỉ với hai nhạc cụ căn sơ có thể tạo nên những nhịp nhàng vô cùng hấp dẫn và bắt tai. Quyết liệt từ những khuôn nhạc đầu tiên, độ mạnh bạo của âm thanh không ngừng tịnh tiến đến những giây cuối cùng. Kỹ thuật thượng thừa của Colin Stetson được trưng trổ gần như đến cực điểm khiến phần bass sax như một nền móng vững chắc suốt 6 phút để Sarah chao lượn cùng với cây violin bên trên, đối lập với track cùng tên album sau đó khi cây violin giữ vai trò đậm nét hơn, đầy những âm thanh ảm đạm, thê lương.

Ấn tượng của tôi khi trải nghiệm NWTWSW như được ngắm, nghe những tông màu, âm sắc thời tiết khác nhau, từ ánh nắng chói lòa bị xé tan thành nhiều mảnh trên tán cây dương liễu (như trên bìa album) trong track đầu tiên đến những gam xám lạnh của một ngày mây mù trong “And Still They Move“, cơn mưa rào trong “In The Vespers” rồi chuyển mình thành cơn bão trong “The Rest of Us“. Bằng cách nào đó, âm nhạc nguyên sơ như thế này, chỉ bằng nhạc cụ, không có sự can thiệp thô bạo của các phần mềm âm thanh cũng như lời hát để dụ dỗ và bóp méo cảm xúc của người nghe, có thể khiến ta ngập tràn mỹ cảm đa dạng như vậy. Không phả là một album khí nhạc êm đềm dễ chịu cho những tâm hồn mềm mỏng vào một tối thứ bảy, nhưng nếu bạn đủ thả lỏng để â nhạc xâm chiếm lấy mình, NWTWSW chắc chắn sẽ là một trong những album đáng nhớ trong năm nay. Và thậm chí là nhiều năm tới.

Album: 9/10

Live: 10/10

Side note: trong buổi live sau khi biểu diễn được một phân nửa album, Colin và Sarah thay phiên nhau trình diễn một màn độc tấu (“High Above the Green Grey Sea” từ To See More Light và “Hero Brother” trong album cùng tên). Cá nhân người viết gợi ý nên nghe hai album solo này và quay lại NWTWSW, có thể tạo nên những ấn tượng và khám phá mới lạ.

13
Jul
15

Songs of 2015: Beach House – Sparks

BEACH-HOUSE-SPARKS-575x630

By Pauler

—–

Beach House

Sparks

Depression Cherry 

—–

Những lời phê bình cho Bloom không phải là không có giá trị. Ở một mặt, Bloom là cách Beach House đi ngược lại với những gì các nghệ sĩ khác trong indie rock thường làm: thay đổi âm thanh ở mỗi album mới. Họ từ chối làm điều này. Thay vào đó, Alex Scally và Victoria Legrand tiếp tục mài dũa loại “dream-pop” mà cả 2 tạo ra từ Teen Dream. Ở mặt khác, bộ đôi này muốn nhấn mạnh rằng: sự chú ý về yếu tố “sound” của một album đôi khi làm quá nhiều fan mất đi khả năng trân trọng một album đúng nghĩa, và họ muốn những người nghe hiểu rằng: mặt “song-writing” (sáng tác) của một album quan trọng không thua kém.

Về bản thân, mình hiểu ý kiến của Alex nhưng thú thực là trước khi nghe “Sparks“, mình đã có sẵn suy nghĩ trong đầu là nếu Beach House vẫn giữ nguyên âm thanh của Bloom thì chắc mình không hề muốn nghe Depression Cherry chút nào.

May thay, “Sparks“, single mở đầu cho album studio thứ 5 của Beach House, là một bước đường nối tiếp bản closer “Irene” của Bloom, khai thác tiếp tục tính dynamic trong nhạc shoegaze (My Bloody Valentine) lẫn âm sắc ảo mộng của những ban như Cocteau TwinsSlowdive. Ngay từ khúc dạo dầu, những thay đổi hiện lên rõ rệt. Âm thanh guitar của Alex được thay đổi để nghe rất “chói”, trong khi tiếng đàn organ của Victoria lại nghe thô ráp hơn hẳn. Trong khi âm thanh chính của Teen DreamBloom vẫn còn có chút gì đó nghe khá là “sạch” trong cách từng instrument được mix nghe rõ từng phần, ở “Sparks“, chúng lại được hòa nhập ở bắt đầu lẫn sau vào với nhau.

Xét riêng về mặt texture thì âm thanh của “Sparks” gợi nhớ đến “Sometimes” của My Bloody Valentine rất nhiều. Nhưng một bài hát không thể là của Beach House nếu thiếu đi phần vocals đặc trưng của Victoria. Có rất nhiều ban nhạc thử tay mình với kiểu dream pop/shoegaze bằng cách chỉnh reverb cho phần guitar đến điên loạn, đến mức toàn bộ bài hát chỉ là một đống âm thanh không hề có bất cứ điều gì giữ chặt các yếu tố lại với nhau. Beach House thì lại khác. Trong vai trò một ban nhạc luôn tự hào về mặt sáng tác của mình, họ cho “Sparks” một sức nặng thông qua phần chorus khá là bắt tai cũng như phần vocals trầm ấm của Vic. Để rồi, khi cô ngân dài câu “...it’s like a sparks“, bài hát chưa bao giờ nghe như ban nhạc này đang lạc lõng trong việc tìm một hướng đi mới cho chính mình. Họ vẫn còn tiếng hát của Victoria, họ vẫn còn tiếng guitar sắc bén dẫn đường của Alex. Và 2 thứ đó là ánh đèn sáng cho dù âm thanh của Beach House có thay đổi như thế nào chăng nữa.

——–

8.5

——–

11
Jul
15

Album Review: Boni – Love

Boni-Love

By Pauler

Một trong những bản R&B classic hay được chọn cho những cuộc thi hát tại Hàn Quốc “잠시 길을 잃다” (Lost, Temporarily) được sáng tác/phối khí bởi 015B và thể hiện bởi Shin Bo-kyung – một vocalist vô danh vào thời điểm 2006 đó. Về mặt âm nhạc, “Lost, Temporarily” không khác mấy những bản Pop/R&B được ưa chuộng vào đầu thập niên 2000s tại thị trường US/UK. Điều đọng lại rõ nhất là màn vocals của Bo-kyung – không ngại phô trương, không ngại lên không tới, đầy chai mòn và tuy là một giọng hát có cái âm sắc của nhạc pop nhiều hơn, Bo-kyung của ngày ấy vẫn hát như một ca sĩ nhạc soul thực thụ.

Đến 2 EP Nu One (2010) và 1990 (2011), Bo-kyung bắt đầu sử dụng nghệ danh Boni và dần xây dựng nên cái góc R&B của riêng mình trong làng nhạc Hàn Quốc. Nu One là cách Boni đi tiếp chặng đường do chính “Lost, Temporarily” trải ra (mặc dù không bài nào trong EP này xuất sắc bằng). Còn 1990 thì là nơi cô thực sự tỏa sáng với cách tôn trọng những ảnh hưởng tiêu biểu của nhạc R&B vào thập niên 90s (“기다릴게“, “연인 (Lover)“) cũng như thêm chút cá tính của mình vào R&B đương đại (“너뿐이야 (Day & Night)).

1990 là một EP khá hay – nó gợi về nhạc cũ nhưng không một giây phút nào nó tạo cảm giác lỗi thời. Thêm nữa, khó mà tìm ra điểm tiêu cực để nói về màn vocals của Boni: cô da diết trong “무엇이라도“, rộn ràng ở “연인 (Lover)” và đôi lúc phô diễn khả năng control của mình trong “너뿐이야 (Day & Night)“, Boni hát với một sự thấu hiểu trong âm lượng, nhả chữ và quan trọng hơn cả, khi nào cô cần hát như một diva tại Madison Square và khi nào cô cần ngừng luyến láy để bài hát tự tỏa sáng. 

COVER

Bây giờ, khi nhắc đến Korean R&B (viết tắt KRNB), những cái tên như Zion.T, JINBO, hay Crush – những nghệ sĩ không ít thì nhiều đều chuộng việc thử nghiệm, làm mới R&B thay vì hướng về cội nguồn. Có hẳn một Fantasy ngập tràn trong những production đậm chất UK Electronic, một Red Light độc đáo trong cách hiện đại hóa funky R&B và một Crush On You hòa nhập cân bằng nhiều loại âm thanh đang thịnh hành. Sáng tạo và đổi mới là 2 yếu tố cần thiết để cho âm nhạc tồn tại. Tuy nhiên, khi R&B bây giờ bắt đầu quá dựa dẫm vào production và những kĩ thuật trong phòng thu để tạo texture này, texture kia, họ bắt đầu thôi hiểu luôn điều gì ban đầu làm cho R&B đặc biệt đến vậy. Mất đi dần là những ca sĩ thực sự có thể truyền tải cái sexuality trong bài hát, có thể xử lý những đoạn luyến láy một cách êm đềm mà không phải ngồi thu chồng hàng loạt vocal track để che đi nhược điểm của mình. Thay vào đó, R&B đương đại được lên ngôi bởi những ca sĩ hát như sân khấu sinh viên (The Weeknd, BANKS) và một số thì nên đi học thanh nhạc bởi vì từ khi nào, hát toàn qua giọng mũi được xem là chấp nhận được? (Jay Park).

Với Love, Boni vẫn gắn bó với những gì đã đem lại thành công cho mình bao lâu nay: một album thuần R&B với rất ít thử nghiệm đưa vào. Với phần phối khí và sản xuất chủ yếu do Jay Cry đảm nhiệm, Love vẫn có những khoảnh khắc tiếp nối EP 1990 thông qua việc phối dựng lại R&B của thập niên 90s bằng phần giai điệu cũng như cách bộ đôi này dàn dựng phần vocals (“Stalk You“, “글쎄 (Well, Maybe)“). Ở single mở đầu “One in a Million“, Jay Cry lấy cảm hứng từ Jessie Ware/Julio Bashmore và tạo nên một “Wildest Moments” cho Boni. Cả 2 bài hát đều sử dụng tiếng drum machine với độ vang hiệu quả, những phân khúc piano rải rác nguyên bài để tạo thêm texture và dĩ nhiên, vừa đủ instrument để cho 2 giọng ca nữ ấy hát như họ đang đứng trước mặt hàng trăm ngàn fan hâm mộ. Trong khi phần vocals của Ware đặc sắc vì sự kiềm chế, Boni lại như một ca sĩ hát lần cuối trong đêm cô bị loại khỏi cuộc chơi.

Boni-I-Love-You

Xuyên suốt ở những bản slow jam như “With You“, “밀당 (Games)” và “잠시 길을 잃다 (Lost, Temporarily) Part 2” (còn nhớ một thời khi các ca sĩ, nhóm nhạc R&B hay làm track kiểu Part 1 và Part 2), Boni cho thấy một sự chín muồi qua cách xử lý cũng như cách cô và Jay Cry sản xuất bài hát. Họ không làm quá nhiều khi những bài hát này đều là những sáng tác hay sẵn trong mặt giai điệu. Thay vào đó, cách chọn nhạc cụ được cân nhắc kĩ hơn, ngắn gọn hơn cấu trúc và để cho giọng hát của Boni làm chủ mỗi bài.

Ở nửa sau album, “똥차라도 괜찮아 (Your Whip’s All Good)” là cách Boni tiếp tục chuỗi cover xuất sắc bao lâu nay của mình ( “나만 바라봐 (Only Look At Me)” của Taeyang và “Bravo” của 40). Thay vì chọn một bài nổi tiếng, Boni dành tặng bản cover cho người bạn cùng hãng Hwaji. Từ một bài hát hip-hop, Boni biến 똥차라도 괜찮아 (Your Whip’s All Good) nghe như một phần hiển nhiên của Love – một khoảnh khắc khi cô đem chút hip-hop của West Coast thông qua cách lẫn những dòng rap nhỏ qua những câu hát nặng trong nhịp điệu R&B. Với “Push” thì còn gì phải nói thêm nữa? Không trừu tượng như “Two Weeks” của FKA twigs hay mờ ảo như “Sayso” của Evy Jane, “Push” đơn giản nghe rất sexy mà nó không hề cố quá nhiều. Yếu tố sexuality trong nhạc R&B không phải là do ca sĩ đó vừa hát chậm vừa chèn những đoạn thở dốc nhanh chậm thế nào; nó hoàn toàn nằm ở cách họ hát, cách họ chơi đùa với những câu chữ đơn giản và nắm chắc trong tay giai điệu của bài.

1

Để cho rộn ràng, Boni mời một tài năng R&B khác, Satbyeol, góp mặt trong “위험해 (Dangerous)” nhưng kết quả lại không như mong đợi. Đây có thể cho là hạt sạn duy nhất trong album này bởi một phần, mặt sáng tác không hề có được cái cảm giác “smooth” như những bài khác, và mặt khác, phần vocals của cả 2 không ăn nhập gì cả. Giá như ở đây thay bằng bản duet với The Suite năm ngoái “Answer Me” thì Love đã có thể hoàn hảo hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, với một bước đi lỡ thì Love lại hồi phục bản thân với 3 lá bài át chủ “Push“-“Strawberry” và bản piano ballad “I Love You“. Trong khi 2 bài đầu là Boni phô diễn cái quyến rũ của một người phụ nữ tự tin, “I Love You” là giây phút đặc biệt nhất của Love bởi tính đơn giản của bài hát. Được sáng tác bởi Grace Shin, “I Love You” không có gì cả ngoài phần piano đệm và vocals của Boni. Nó nổi bật ra bởi vì nó là khoảnh khắc “pop” nhất, không theo cùng flow nhất của album, nhưng lí do chính là vì nó cho thấy khi một sáng tác hay được thể hiện bởi một ca sĩ xuất sắc, bạn không cần phân tích nhiều hay lập luận rằng vì sao nó lại ở đây.

Với Boni nói riêng và mặt trận Korean R&B nói chung, cô đang đứng ở một vị trí khá độc đáo. KRNB sẽ luôn cần những album của những JINBO, Alshain, GrayZion.T, nhưng nó cũng sẽ luôn có một chỗ đứng cho những nghệ sĩ như Satbyeol, HoodyBoni – những người không bao giờ quên tại sao mình lại trưởng thành và yêu những album của TLC, Aaliyah đến vậy. Trừ khi JINBO có thể làm một album xuất sắc hơn mixtape KRNB một thời của mình chứ hiện tại thì vẫn chưa có một album R&B nào có thể vượt qua Love của Boni – một sản phẩm trưởng thành từ một ca sĩ biết mình giỏi cái gì và cần phải hát ra sao.

 Capture

8.8

05
Jul
15

Songs of 2015: Jamie xx – Loud Places (feat. Romy Croft)

8f09545c

By Pauler T.D

Jamie xx

Loud Places” (feat Romy)

In Colour

———-

Khi bên cạnh Romy CroftOliver Sim trong The xx, âm nhạc của Jamie xx luôn có một sự cẩn trọng và từ tốn cần thiết. Một phần nằm ở việc Romy/Oliver không phải là những ca sĩ được rèn luyện chuyên nghiệp và một phần khác, âm nhạc của The xx sẽ không cuốn hút đến thế nếu nó mất đi sự “mộc mạc” của đôi bạn thân này – 2 người hòa giọng cho nhau nghe thay vì phô diễn quãng giọng để cho các Simon Cowell trên thế giới đánh giá.

Nhưng khi Jamie đứng một mình, anh bắt đầu đem những âm hưởng của ravejungle (bài “Gosh” từ In Colour) vào – những thể loại nhạc dance có tempo dồn dập, đôi khi aggressive – những tính từ chưa bao giờ có thể dùng để mô tả âm nhạc của The xx. Ở “Loud Places“, Jamie được đặt vào tình thế khi anh phải cân bằng giữa phần vocals nhẹ nhàng của Romy cũng như phải làm sao cho bài hát không nghe như một bài hát khác của “The xx“.

Kết quả? Ở 2 đoạn verses, phần phối khí được xây dựng với những âm thanh minimalist như xylophone và những đoạn piano ngắn, tạo không gian rộng lớn để những câu hát của Romy nghe “đắng” hơn cả (“You go to loud places to search for someone/Who would take you higher than I took you“). Đến khi phần điệp khúc vang dậy, Jamie bắt đầu đưa yếu tố “loud” thông qua phần sample của Idris Muhammad (“Could Heaven Ever Be Like This“). Cách xen lẫn giữa phần hòa giọng của dàn đồng ca lẫn tiếng vỗ tay (“I could never reach such heights“) và câu hát đơn cô “….reach without me“) của Romy tạo nên sự đối nghịch rõ ràng trong mặt âm sắc. “Loud Places” một phần được khuấy động bởi tính “melodic” trong cách dùng sample của Jamie, nhưng ở mặt khác, việc dùng dàn đồng ca để tạo cao trào là một bước đi không mấy bất ngờ.

Tuy nhiên, mình vẫn đánh giá cao “Loud Places” vì nó vẫn là một bài nhạc pop được thực hiện thông minh và nó được cân bằng rất tốt giữa mảng âm nhạc solo của Jamie và phong cách vocals/cách chơi guitar của Romy. Và câu hát cuối của bài, “You’re in ecstasy, without me/When you come down, I won’t be around” là một trong những lời ca về chủ đề breakup đáng nhớ nhất của năm nay.

———-

8

16
May
15

Single Review: BoA – Kiss My Lips

BoA_1431457783_af_org

BoA

Kiss My Lips

Kiss My Lips

———-

Trong khi “Who You Are” là bổn cũ soạn lại từ “Only One” và “Disturbance“, “Kiss My Lips” là một bước tiến mới cho BoA  trong mặt âm thanh cũng như hình ảnh. Trút bỏ đi kiểu Pop/R&B an toàn lẫn mờ nhạt kia, BoA và đội ngũ hậu thuẫn phía sau lấy một trang từ sổ tay của Janet Jackson trong thời album Discipline (đơn cử “Rock With U“) để làm DNA mẫu cho “Kiss My Lips“. Đây không hẳn là lần đầu tiên BoA thử nghiệm với việc phối hợp cách thao tác giai điệu mượt mà của Pop/R&B trên nền production chịu ảnh hưởng electro-pop, nhưng chưa bao giờ kết quả lại nghe xúc tích và trưởng thành như thế này.

Một điều tách biệt “Kiss My Lips” ra khỏi các single nóng mặt khác hiện tại là ở chỗ nó không được xây dựng với một cao trào rõ rệt. Từ đoạn verse điềm tĩnh trong tiếng drum-machine bập bùng, BoA theo sát phía sau bằng phần chorus đơn giản và điềm tĩnh không kém “Come on, kiss my lips/If you let me get close to you“. SM đã đi một ván bài tương tự với Red Velvet đầu năm nay với “Automatic“. Với BoA, cô nàng có đủ fan và danh tiếng để đi ván bài này mà không sợ bị thua. “Kiss My Lips” chưa hẳn xuất sắc để xem là một single mấu chốt trong sự nghiệp 15 năm của BoA, nhưng nó là bước đi đáng khuyến khích cho một cô nàng đang làm chủ gần như 100% quá trình hình thành những đứa con tinh thần của mình.

———-

7

———-

04
Apr
15

V-Pop Top 50: #39: Hải Yến – Thềm Nhà Có Hoa

#39

20612082_images1096059_1

Hải Yến

Thềm Nhà Có Hoa” (2007)

Thềm Nhà Có Hoa

Một lý do khiến phần lớn những ca khúc tự gọi “Rock Việt” không được đưa vào trong danh sách chính là vì họ thường tỏ ra nghiêm túc một cách ngớ ngẩn trong phần ca từ, và bắt chước trắng trợn ở phần phối khí. Thềm Nhà Có Hoa– ca khúc chủ đề trong album đầu tay của Hải Yến – đã thoát khỏi điều này. Bài hát là một câu chuyện về một cô gái đang chờ đợi mỏi mòn lời tỏ tình từ một chàng trai (verse), và khi cô ngỡ tình mình đã phai tàn thì một buổi sáng, cô tìm thấy một bó hoa mà ai đó để lại trên thềm nhà. Cô gái hình dung chàng trai đã đến đêm qua, và sự hạnh phúc dâng tràn sưởi ấm trái tim cô đang lạnh giá (chorus-bridge).

Câu chuyện của bài hát – đơn giản và dễ thương – được kể lại thuyết phục qua phần thể hiện của Hải Yến và ê-kíp của Thanh Tâm. Phần verse được chạy trên một nhịp trống ¾ đơn giản, phần guitar riffs điểm xuyết, và một giai điệu jazzy với nhiều chất tự sự – đó là khi Hải Yến bày tỏ sự lo âu lẫn hờn dỗi rất dịu dàng của mình. Bài hát vẫn được giữ nguyên tempo ở phần chorus, trong khi giai điệu và giọng hát dần trở nên tươi vui và mạnh mẽ hơn. Để rồi khi đến bridge, nhịp thay đổi sang 3+4/4 khá bất thường, và Hải Yến bùng nổ với niềm lạc quan và thương yêu trào dâng (Bên nhau anh nhé, không bao giờ chia xa…) mà được giữ cho đến kết thúc. Nhờ vậy, Thanh Tâm và ê-kíp cũng chứng minh được rằng: không cần lên gân lên cốt, họ vẫn viết nên được những ca từ giản dị mà ý nghĩa, đồng thời đem tới một nhạc phẩm jazz rock chỉn chu, có cả sự độc đáo lẫn cảm xúc chân thành để đi vào lòng người nghe và ở lại trong trái tim của họ.

Quốc Nguyễn

04
Apr
15

V-Pop Top 50: #40: Hồ Bích Ngọc – Một Ngày Mới

#40

ho-bich-ngoc-332_310_310

Hồ Bích Ngọc

Một Ngày Mới” (2009)

Bước Kế Tiếp

Một Ngày Mới“, do chính Thanh Tâm sáng tác và phối khí, là một trong những bài hát được thực hiện thông minh nhất trong V-Pop vào thập kỷ trước. Điều hay của “Một Ngày Mới” là việc Thanh Tâm không ngại cho các lọai bộ gõ “organic” (tiếng đập chai, lon,…) sánh vai cùng những sáng chế synth hiện đại. Anh để bài hát phát triển rất tự nhiên, không chút gò bó và đến cuối, nó thật sự mang lại những cảm giác mà ngày mới hứa hẹn. Một điểm mạnh khác là anh chơi đùa với hàng lọat hiệu ứng ở nửa sau bài để đem thêm chi tiết, nhưng không bao giờ chúng nghe như anh đang lạm dụng sức mạnh của phòng thu. Từ tiếng nhạc cụ mới vào ở 2:36, đến đọan giọng của Ngọc bị fade-out hoàn toàn 2:59, những điều này tăng sự hấp dẫn của “Một Ngày Mới” lên rất nhiều và cùng lúc giúp nó trở nên nổi bật trong muôn vàn rác rưởi nhạc pop khác.

Prorock




ALBUM REVIEW IN 2015

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 262 other followers