24
May
16

Best of 2016: Sampha – Timmy’s Prayer

Sampha

Sampha

Timmy’s Prayer

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Composed by Sampa, produced by (?) vocals by Sampha

5 năm kể từ bản song ca “Valentine” với Jessie Ware, Sampha vẫn khiêm tốn đứng trong bóng tối, mang giọng hát tuyệt vời của mình để hỗ trợ các rapper danh tiếng như Kanye West (“Saint Pablo“) hay Drake (“Too Much“) trong khi Ware liên tục gặt hái nhiều thành công thương mại hơn. “Timmy’s Prayer“, bài hát đánh dấu sự quay lại chính thức của anh sau hơn 3 năm “nghỉ ngơi” là một hồi tưởng về những gì xảy ra trong khoảng thời gian đó và nó cũng đồng thời giúp ta nhớ lại âm nhạc bây giờ cần những nghệ sĩ có thể cân bằng xuất sắc giữa “thử nghiệm” và “truyền thống” như anh đến thế nào.

Luôn là một người thích khai thác các chord progression quen thuộc trên những lớp percussion nhẹ nhàng (“Without“), Sampha đổi mới bằng việc mở đầu “Timmy’s Prayer” qua tiếng kèn của “The Coldest Days of the Year” – bản nhạc soul từ bộ tứ Chi-Lites vào thập niên 70’s. Tuy nhiên, với bản thân là một người chịu ảnh hưởng đều từ cả dance/electronicsoul, anh dừng hẳn phần sample, thay đổi tempo trong đoạn bridge với những phân đoạn synth lên xuống liên hồi và cuối cùng đáp qua một tempo khác nữa trong những tiếng percussion cứng cáp cho đoạn chorus cuối cùng. Ở mặt cấu trúc, Sampha làm mờ ranh giới giữa các phân đoạn truyền thống của một bài hát. Nửa đầu bài, anh biến tấu tempo cũng như cách chia câu đoạn chorus để mở đầu rồi sau đó mới đi vào verse 1. Nhưng cũng ở verse 1, cách giai điệu được xây dựng lại tạo cảm giác một phần của nó lại là chorus và đoạn chorus chính thức lại cảm giác như “pre-chorus”. Tất cả những thử nghiệm này, tuy khôn khéo, đều có thể sập đổ nếu như không có Sampha trong phần vocals  nối kết chúng lại với nhau. Dùng những falsetto mỏng manh và phần upper register nồng nàn, anh trình bày một cách thuyết phục về những phức tạp trong nội tâm, về những mâu thuẫn giữa căm ghét bản thân và chấp nhận quay về nơi mình coi là “ngục tù”. Để rồi đến cuối, khi cả những nơi anh ghét nhất cũng không còn chỗ, anh lạc lõng, dần dần để cho những gì anh từng bỏ quay lại hủy hoại mình. Không hẳn như những bản tình ca tuy bi thương nhưng vẫn cho chút hy vọng vào phía cuối, “Timmy’s Prayer” khắc họa một lời cầu nguyện vô ích, mang những cái đẹp nhất trong giai điệu lẫn giọng hát và đưa chúng vào những góc tối nhất của tình yêu.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

23
May
16

Best of 2016: Ariana Grande – Into You

Ariana_Grande Into You

Ariana Grande

Into You

Dangerous Woman

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Written by Ariana Grande, Max Martin, Ilyah Salmanzadeh, Alexander Krolund & Savan Kotecha, produced by Salmanzadeh & Martin, vocals by Grande

Tuy không phải là một ví dụ điển hình để giới thiệu hướng đi chung cho album studio thứ 3 lần này như “Dangerous Woman” hay mang tính “thử nghiệm” thú vị trong cấu trúc như “Knew Better/Forever Boy“, “Into You” nổi bật bởi vì nó bám sát những công thức thành công trong nhạc pop đương đại và thực hiện rất tốt các yếu tố đó. Max Martin lẫn Ilya đều là những producer chuộng phong cách khuếch đại nhạc pop ở những lớp synth phô trương, thường pha lẫn trong những lựa chọn percussion hoặc synth bass với tính cách tương tự. Ở mặt tích cực, phong cách này dễ để lại một dấu ấn đáng nhớ ngay trong lần nghe đầu tiên nhưng đồng thời, đôi khi cả 2 lại không có sự cân bằng trong mặt vocal arrangement – dẫn đến bài hát như nghe một quả bong bóng được bơm quá tay. Trong “Into You“, với từng đoạn synth bén như dao ở chorus từ Martin (“A little less conversation, and a little more touch my body“) là những khoảnh khắc nhẹ nhàng được kết tụ trong hồi hộp từ Ilya (“Oh baby, look what you started/The temperature rising in here“). Cả hai cho bài hát đi đến cái đỉnh vừa phải nhất của “maximalist” nhưng họ chỉ cho phép một vài instrumentation như vậy và giữ tất cả các yếu tố khác trong trạng thái “bình tĩnh”. Thậm chí, ở trong mặt vocals của Ariana Grande – một người hay có tật dùng quãng cao của mình ở những nơi không dùng, cũng biết việc cô phải điều chỉnh phần trình bày của mình sao cho hợp lẽ với tầm nhìn của Ilya/Martin. Cuối cùng, “Into You” được hoàn chỉnh như một bản club-banger hoàn hảo cho mùa hè – nó đủ cơn “thịnh nộ” trong phần production để ghi điểm với số đông một cách hiệu quả nhất, nhưng nó cũng đủ “kiềm chế” để khiến bài hát không trở thành một bản dance nửa vời dễ quên như kiểu “Be Alright“.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

 

20
May
16

Best of 2016: Rihanna – Higher

Rihanna

Rihanna

Higher

ANTI

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Composed by James Fauntleroy, Kenan Williams, Rihanna & Bibi Bourelly, produced by No I.D & Kuk Harrell, vocals by Rihanna

Dựa trên bản instrumental nhạc soul-jazz “Beside You” của The Soulful Strings, “Higher” tuy ngắn nhất nhưng lại là bài hát đáng nhớ nhất từ ANTI – album studio thứ 8 của Rihanna. Một phần, “Higher” mang nhiều cảm giác retro bởi cách dùng một sample từ tận 1970 cũng như bởi cách producer No I.D thực hiện phần viola xuyên suốt bài hát – kết quả, bài hát thoạt đầu nghe như một bản tình ca của Dusty Springfield bị lẫn trong muôn vàn những “thử nghiệm” hiện đại của album (đơn cử: bản cover “Same Ol’ Mistakes” của Tame Impala). Ở mặt khác, vỏn vẹn trong đúng 1 verse và 1 chorus, Rihanna mang lại phần vocals hay nhất trong sự nghiệp của mình, diễn đạt nỗi nhớ vô vàn cũng như cái tuyệt vọng thấm đẫm trong màu của khói thuốc lẫn rượu Whiskey. Ở những câu tưởng chừng như giọng hát của cô sẽ tắt đi (“You take me higher“, “You’re like my fire“), Rihanna vẫn như muốn lên cao hơn nữa, cô nửa bi thương như nhân vật nữ  trong “Love Is A Losing Game” của Amy Winehouse, nửa khao khát mãnh liệt muốn lấy lại tình yêu như Stephanie Mills trong “Feel the Fire“. “Higher” không có bất kỳ yếu tố đáng bàn nào trong mặt sáng tạo sonic, nhưng với chính cấu trúc ngắn gọn nhất và ở một phần vocals “bão bùng” đến bất ngờ, nó trở thành ván bài mạo hiểm lẫn thành công nhất từ ANTI.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

19
May
16

Best of 2016: Twice (트와이스) – Precious Love (소중한 사랑)

Twice

Twice (트와이스)

Precious Love (소중한 사랑)

PAGE TWO

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Composed by J.Y.Park, Arranged by Hong Ji-sang, vocals & rap by Twice

Precious Love” lần đầu tiên xuất hiện ở album Blue Angel (1998) của Park Ji-yoon (một nghệ sĩ dưới sự quản lý của J.Y.P từ 1997 – 2003) với phần hòa âm đậm chất Euro-pop house khá nổi vào thời điểm đó. Ở phiên bản 2016 này, J.Y.PHong Ji-sang  giữ nguyên giai điệu tổng thể ban đầu và “nâng cấp” phần phối khí cũng như dàn dựng vocals sao cho phù hợp với nhất với Twice. Vì số lượng thành viên trong nhóm, “Precious Love” ở đây được chia ra phần đệm và hát chính và điều này dẫn đến việc khi nhóm hát đoạn chorus, cả 2 phía đều thoải mái trình bày phần của mình và họ không thể hiện được cái khẩn trương trong nỗi khao khát như Park Ji-yoon. Tuy không khai thác hiệu quả chiều sâu của sáng tác qua phần thể hiện, bản của Twice bù đắp lại bằng nhiều lựa chọn thông minh ở mặt sonic trong phần phối khí: những tiếng vocal sample được chỉnh tông cao lên rải rác ở đoạn 1, những đoạn synth lung linh lấp đầy chorus, hay cả chút bất ngờ khi đoạn pre-chorus được hạ tempo rồi điệp khúc sau đó nổ bừng trong ảnh hưởng của disco và tropical house. Trong khi J.Y.P thực hiện “Precious Love” cho Park Ji-yoon với định hướng giữ bài hát đơn giản ở cả vocals và production, Hong Ji-sang hướng Twice theo chủ nghĩa “more is more” ở tất cả các mặt: thêm vocals, thêm layer cho production, thêm chi tiết sonic và cuối cùng, mặc cho lời ca có là một lời cầu khẩn trong tuyệt vọng, Twice vẫn cứ thể hiện một cách ngọt ngào và mang lại một hy vọng chất chứa xuyên suốt bài

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

18
May
16

Best of 2016: Phan Mạnh Quỳnh – Tri Kỷ

Tri Kỷ

Phan Mạnh Quỳnh

Tri Kỷ

Tri Kỷ (Single)

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Composed by Phan Mạnh Quỳnh, arranged & produced by Nguyễn Hải Phong, vocals by Phan Mạnh Quỳnh

Khi phỏng vấn với Dạ Quỳnh của tạp chí trực tuyến SaoStar, SlimV tâm sự “nên cần có giải thưởng cống hiến cho những producer để họ không bị thiệt thòi và điều đó giúp họ cống hiến được nhiều hơn nữa. Thực sự người sản xuất nhạc cũng đã bỏ ra nhiều chất xám để có thể góp phần thành công của bài hát.” Và “Tri Kỷ“, một sáng tác của Phan Mạnh Quỳnh, do Nguyễn Hải Phong phụ trách phần hòa âm phối khí là một trong những dẫn chứng tuyệt vời nhất năm nay cho nhận định đó. Xét ở riêng phần sáng tác, “Tri Kỷ” vẫn mang những đặc điểm tiêu biểu từ hit được Google nhiều nhất ở Việt Nam vào năm ngoái “Vợ Người Ta“: bình dân trong cách gieo vần (đôi lúc khá sến trong từ ngữ được chọn) và vẫn chưa có một sự tinh tế nhất định trong mặt giai điệu. Tuy nhiên, dưới cách dẫn dắt tuyệt vời của Nguyễn Hải Phong trong mặt hòa âm phối khí, “Tri Kỷ” hoàn toàn lột xác. Phối hợp giữa những chord piano uyển chuyển và một số âm thanh synthesizer vo ve rải rác, Hải Phong xây dựng một cái “mood” tươi trẻ và khá là hiện đại khi anh tránh những lối mòn trong việc thực hiện giai điệu piano. Đến khi lớp kick-drum khởi đầu và nhấn mạnh cuối mỗi câu trong đoạn chorus, “Tri Kỷ” trở thành một ca khúc nhạc pop hùng hồn trong nội dung nó muốn truyền đạt, mang những quan niệm chân chất trong mối quan hệ giữa con người trở thành những đoạn hook ta có thể dang tay gào thét mà hát, và ở những khoảnh khắc đơn giản nhưng đáng nhớ như vậy, bộ đôi Phan Mạnh Quỳnh/Nguyễn Hải Phong mang lại một trong những ca khúc thỏa mãn nhất trong 2016.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

17
May
16

Best of 2016: Radiohead – True Love Waits

Radiohead True Love Waits

Radiohead

True Love Waits

A Moon-Shaped Pool

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Trong cảnh cuối cùng của bộ phim Before Midnight từ Richard Linklater (với Julie Deply trong vai CelineEthan Hawke vai Jesse), khi Celine phớt lờ tất cả cố gắng làm hòa của Jesse sau một trận cãi vã nảy lửa, cuối cùng anh phơi bày tất cả những cảm xúc của mình và cho cô một “tối hậu thư”:

I tell you I love you unconditionally, I tell you that you’re beautiful, I tell you that your ass looks great when you’re 80. I’m trying to make you laugh. I put up with plenty of your shit, and if you think I’m just some dog who’s gonna keep coming back then, you’re wrong. But if you want true love – this is it.

9 năm về trước trong Before Sunset, câu chuyện của JesseCeline tượng trưng cho những lý tưởng tình yêu của tuổi trẻ: nồng nhiệt, lãng mạn và phần nào khờ khạo. 9 năm sau, ở ngay nhà hàng nơi cả 2 từng ngắm hoàng hôn với nhau, Jesse cầu khẩn lần cuối, rằng giữa anh và Celine, đây là tình yêu thật sự. Không còn lời hát câu chữ hào nhoáng nào để nói, mà chỉ còn anh, đã sống và trải nghiệm, cho cô thấy anh chấp nhận tất cả những gì “xấu” lẫn “đẹp” về cô.

Bản live “True Love Waits” ở một sân khấu tại Brussels (1995) hay bản ghi âm live trong EP I Might Be Wrong (2000) đều giống như JesseCeline trong 2 bộ phim đầu của Richard Linkster.  Trong khi đó, bản chính thức đóng lại album studio thứ 9 A Moon-Shaped Pool, cũng những câu hát nặng lòng ngày nào, tưởng chừng như Before Midnight đang được chiếu lại. Thay thế cho kĩ thuật strumming với guitar và tiếng keyboard, Radiohead sử dụng piano và những âm thanh điện tử li ti để tạo một thế giới mới cho bài hát. Giao động qua từng phân đoạn, tiếng keyboard xuất hiện và đi vào những nốt trầm hơn, lần lượt cuốn theo phần bass và sau đó những đoạn piano ban đầu dần tan nhẹ trên nền electronic, biến thành những nốt lơ lửng giữa mơ và thật. “True Love Waits” là một trong những bài hát với phần lời “thẳng thắn” nhất, một điều dễ hiểu khi nó được sáng tác vào thời điểm trước khi Radiohead bắt đầu thay đổi hoàn toàn cách chơi và viết nhạc của mình sau thành công của “Creep“. Giữa những hình ảnh nửa ngộ nghĩnh, nửa ấn tượng như “True love lives on lollypop and crisps” hay “I’ll dress like your niece/To wash your swollen feet“, True Love Waits” đi vào những trải nghiệm hay gặp khi nhận thức hạnh phúc đang trên bờ vực đổ vỡ (“I’m not living/I’m just killing time“), và khi mọi điều muốn nói, cả những giải thích và khẩn cầu trong vô vọng cũng đều đã nói rồi, Thom Yorke chỉ đơn thuần ngân “Don’t leave” đến khi anh chìm sâu vào phần nền. Ở một góc độ, “True Love Waits” là bức tranh khắc họa những giây phút khi cái tôi được vứt bỏ hoàn toàn qua một bên và họ chấp nhận trở thành người thua cuộc để van xin nài nỉ đến tận cùng. Và Radiohead, một ban nhạc đã sống và trải nghiệm, họ tìm thấy cái đẹp trong những cái đau cay xé nhất và mang chút ánh sáng vào một bài hát quanh quẩn ở những vỡ tan.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

12
May
16

Best of 2016: ANOHNI – Why Did You Separate Me from the Earth?

ANOHNI

ANOHNI

Why Did You Separate Me From Earth?

HOPELESSNESS

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

In the past, humans hesitated when they took lives, even non-human lives. But society had changed, and they no longer felt that way. As humans grew stronger, I think that we became quite arrogant, losing the sorrow of ‘we have no other choice.’ I think that in the essence of human civilization, we have the desire to become rich without limit, by taking the lives of other creatures.” – Hayao Miyazaki

Đến thời điểm này, HOPELESSNESS có lẽ là album mang tính thời sự mạnh mẽ nhất của 2016. Bộ ba ANOHNI, Ross Birchard và Daniel Lopatin không e dè khi chạm đến những chủ đề rất nóng hổi hiện nay: thả bomb ở Trung Đông, biến đổi khí hậu, việc theo dõi thông tin cá nhân hay thậm chí ngay cả đương kim tổng tống Mỹ (!). Âm nhạc phản kháng chưa bao giờ là lãnh địa dễ dàng cho các nghệ sĩ, vì rất dễ sa đà vào việc hô hào, kêu gọi mà quên mất những điểm cốt lõi làm nên một bài hát phản kháng hay và thuyết phục – một thông điệp mạnh mẽ, phần âm nhạc bắt sự chú ý và khía cạnh quan trọng nhất – cảm xúc.

Một trong những highlight của album, “Why Did You Separate Me From The Earth?” là một bản bi ca đầy thương xót cho những thảm họa môi trường đang diễn ra – ô nhiễm, rác thải nguyên tử, chặt phá rừng, sự nóng dần của trái đất, tàn phá tài nguyên biển. Không cần quá vòng vo trong việc xây dựng bài hát, “WDYSM” như luôn chực bùng nổ từ những giây đầu tiên. Phần production theo lối maximalist cua Birchard không bao giờ tỏ ra quá vội vã, đáng chú ý nhất có lẽ khi toàn bộ phần nhạc đột ngột tối giản xuống chỉ còn tiếng drone bập bùng khi ANOHNI hát: “I don’t want your future/I’m never never coming home/I don’t want your future/I’ll be born before you’re born” để lấy đà đẩy mạnh cảm xúc cho phần kết. Và không thể quên nhắc đến phần vocals của ANOHNI, gần như với chỉ hai câu giai điệu, cô thể hiện được quá nhiều – sự tức giận, nhức nhối nhưng viền quanh đó vẫn là một sự dịu dàng xuyên suốt; và đó có lẽ một trong những điều đáng quý nhất của “WDYSM” và HOPELESSNESS nói chung: mặc cho tựa đề và những chủ đề khá tối tăm, đâu đó vẫn lấp loáng hy vọng và niềm tin – dù không hẳn phải hát ra thành lời. Tất cả chưa phải chấm dứt.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Dai Vu




REVIEW IN 2016

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 288 other followers