28
Jun
10

The ArchAndroid (Suites II & III of IV) – Janelle Monáe

2 điều muốn nói trước khi review album của Janelle

1. Pauler muốn cái mũ của Janelle. Nhìn hay sợ luôn.

2. Pauler muốn làm tóc như Janelle, mỗi tội không đủ tóc để bó lên như cái bông bàn thờ như Janelle.

Janelle Monáe được khám phá bởi Big Boi, một nửa của bộ đôi Outkast. Cũng giống như Outkast, Janelle cực kì đầy tham vọng khi làm album LP này; cô phối hợp giữa rock, funk, soul, old-school R&B, và phần nào cái style tóc cột thành 1 bó rơm trên đầu. Cảm hứng làm album được lấy từ Metropolis với Janelle đóng vai messiah. Tóm lại là lịch sử rất loằng ngoằng cho nên P xin bỏ qua phần này.

Nghe Tightrope vào đầu 2010 và tkhông thể không nghĩ đến Hey Ya của Andre 3000: catchy cực kì, nhưng không hề giống với bất kì thứ gì trong dòng mainstream năm đó. Chả có ai như Outkast đi hát Wha’ts cooler than being cool rồi chơi nguyên một phát funky Shake it rất ngẫu hứng và chả biết đường nào mà lần. Tightrope là một bài như thế, Janelle nhả từng chữ với tốc độ chuẩn, gọn gàng, và hòan hảo đến từng giây. Trên chorus, cô đem lại cái gốc soul của bản thân khi bắt đầu belting Whether you’re high or low, gợi nhớ đến thế hệ Memphis Soul của ngày nào. Và Tightrope dứt điểm với một phần horn solo mà buồn cỡ nào cũng phải đứng nhún nhảy.

Album được chia ra làm hai Suite, đều mở đầu với intro (suite II Overture và Suite III) và sau đó là một chuỗi các bài hát được nối với nhau một cách độc đáo.  P sẽ review album này theo từng Overture cũng như điểm mạnh, điểm yếu, và điểm lạ của The ArchAndroid, một trong những album thuộc dòng mainstream hay nhất của 2010.

Khi nghe album của Janelle Monáe, P khuyên là không nên skip bài nào vì bạn sẽ không nhận ra cách nối bài hát rất điêu luyện của cô. Phần nhạc kết thúc của bài này sẽ là intro mở màn cho bài khác. Suite II mở đầu với một màn strings gợi tạo cảm giác đầy khiêu khích và nguy hiểm, để rồi sau đó Janelle thể hiện độ versatility tuyệt vời từ rap trong Dance or Die, nửa hát-nửa rap trong Tightrope, vocal runs không kém cựa các đàn chị trong Oh, Maker, và cuối cùng điểm nhấn độc  nhất của Suite II: Come Alive khi cô chơi một nốt bằng “mixed voice” đến tận gần 20 giây.

Điểm tốt nhất nằm ở 4 tracks: Cold War, Tightrope, (bản filler Neon Gumbo), Oh, MakerCome Alive. Thật khó có thể tưởng tượng khi một nghệ sĩ ở bờ vực mainstream gần như hoàn toàn, nhưng chị không hề chạy theo số đông, mà lại rất chăm chú làm nên một sản phẩm quá táo bạo như thế này. Cold War giống như một màn khởi động cho 3 bài kia, để rồi Tightrope đập tưng bừng, Oh Maker nồng nàn như một Prince của ngày nào, và Come Alive lại mang cái điên rực lửa của dòng soul James Brown.

Bên cạnh phần trình bày và “execution” tuyệt hảo của Janelle, phần phối khí trong từng bài của The ArchAndroid cũng là một yếu tố quan trọng. Oh, Maker sẽ như một bản ballad từ album Rockferry của Duffy nếu không nhờ sự hòa trộn giữa âm hưởng của soul và cách dùng synthesizer tinh tế. Quay lại những bài đầu như Faster hay Locked Inside, tất cả đều nhờ lại cách phối để kéo bài hát ra khỏi lối mòn bao lâu của các nghệ sĩ contemporary R&B. Không tập trung vào quá nhiều drum machines hay những trò piano, lời lẽ sến rện và những màn melisma quá lố như cái tô, Janelle giữ lyrics của cô ở mức vừa phải, đủ tình cảm cho fan của R&B thưởng thức, và đủ “bình thường” cho fan của indie không trợn mắt mỗi khi nghe. Cô tập trung nhiều vào cách phối hợp bộ dây strings vào những thể lọai khác nhau của âm nhạc, và từ đó cô tiến tới hoàn thành từng mảnh ghép cần thiết.

Suite III Overture ít quái đản hơn những gì từ Suite II Overture và nó cũng là dự báo cho 6 bài còn lại. Neon Valley Street là một trong những bản ballad tiêu biểu khác của album. Phần rap gợi nhớ đến TLC của ngày nào, nhưng phần phối (nói hòai, mệt quá) thì hoàn toàn rất JM: chen từ tiếng saxophone, những tiếng strings lên xuống đứt quãng, và hay nhất phải kể đến phần electric guitar mà Janelle chen vào ở gần cuối bài (không phải J chơi ạ).

Make The Bus được viết bởi Kevin Barnes của of Montreal – một nhóm nhạc nói chung là không giống ai, và leader Kevin Barnes cũng rất rất không giống ai. Chính vì Make The Bus là bài duy nhất có một người viết, nó cũng là bài hát “lạc lõng” nhất toàn album. Đây không có nghĩa là dở, nhưng chỉ là không kết nối phần còn lại với album. Đây cũng là điểm yếu lớn nhất của Suite III vì nó không có chuỗi kết nối hoàn hảo mà Suite II làm, và các bài hát cũng thiếu đi cái hào hứng, ngạc nhiên, hay táo bạo mà Janelle làm liên tục ở những bài đầu.

Bản synth-pop Wondaland mang một cái gì đó tươi mát cho toàn album, 57821 (số đánh đề của nhà Janelle) lại khá buồn ngủ khi mang cảm giác của folk nhưng lại không có cái chất thô và sâu đậm của dòng nhạc, Say You’ll Go nghe như một bản vá của hai bài khác nhau, và nó khá lập lại những công thức thành công của các bài đầu và khá ironic là đọan mình thích nhất là đọan cliché nhất của bài khi chỉ có mỗi Janelle và piano. Và bản closing BaBopByeYa, dài đến 8 phút nghe như một bản nhạc kịch ngay phút hồi hộp nhất. Instruments thay đổi liên tục, từ cách chen tambourine ở phần đầu, strings để tạo cảm giác climatic ở giữa với đoạn vocals kiểu Broadway của J, rồi phần piano và trumpet về sau. Cũng không hẳn là một Bohemian Rhapsody thứ hai, nhưng BaBopByeYa hoàn toàn xứng đáng vai trò của một closer khi nó gần như là bài ambitious nhất toàn album: nối kết liên tục từ Rock, Soul, Jazz, Funk, và một mình J cầm cương sắp xếp các đặc trưng các thể lọai để không genre nào nghe lạc lòai.

Một lần nữa, có lẽ lần cuối cùng nghe một album mà độ sáng tạo khiến mình hào hứng thế này là album Bitte Orca của Dirty Projectors, nhưng Janelle vẫn là một cô gái đi theo mainstream chứ không hoàn toàn từ cõi trên như Dave Longstrength cho nên cũng phần nào phải ca ngợi cô hơn vì mix giữa hook cần thiết trong mainstream và elements của một nghệ sĩ hay đi chơi với các anh chị máu mặt indie (of Montreal, Big Boi). Album có những khoảnh khắc thử nghiệm không thành công, và có những khoảnh khắc xứng đáng giựt nguyên cho J một cái Record of The Year hay Album of The Year, nhưng điều này cũng bắt đầu khiến người nghe tò mò để xem Janelle có thể vượt qua được những bức tường do chính cô tạo ra trong Suite IV (phát hành vào một ngày nào đó) hay không.

Mua đĩa nghe chưa các em. Không là chị trừng.

Đề nghị khi nghe không nên skip để có thể cảm nhận cái nối kết của album, và không xài headphone rởm vì bạn sẽ không nghe ra nhiều lớp âm thanh khác nhau ở trong một album có phần phối sáng tạo bậc nhất của 2010 (cùng với LCD Soundsystem cũng như Four Tet).

Grade: 8.7/10


13 Responses to “The ArchAndroid (Suites II & III of IV) – Janelle Monáe”


  1. 1 B
    June 30, 2010 at 8:59 pm

    cover ArchAndroid đẹp và fierce quá :((

    album hay tuyệt :”> nghe xong cứ toàn repeat lại Suite II :”>

  2. 6 yuppy
    July 1, 2010 at 12:10 am

    VNNTB1ches’ 1st aniversary!! ^^

    • 7 yuppy
      July 1, 2010 at 12:15 am

      anniversary :P

      • 8 yuppy
        July 1, 2010 at 12:25 am

        sorry, em spam tí ^^
        Chúc mừng kỉ niệm 1 năm khai trương blog VNNTB1ches!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
        Cám ơn đóng góp của các bitches trong một năm qua, để cho những người đọc như em được giải tỏa sau khi nghe các bạn “Sao” teen và tween “hấp rim” âm nhạc, và tìm thấy những giá trị thực bị thị trường bỏ rơi :)

        Nhân dịp này cho em hỏi các bitches một số câu :”>

        1. Các bitches đã làm quen với nhau như thế nào? ^^

        2. VNNTB được mở ra với ý định ban đầu là mở màn bitching về chương trình AI nhưng sau mùa 8, ko thấy các bitches chúng ta nói gì về AI nữa. Tại sao vậy???

        3. Các bitches ủng hộ anh Heo điên nhiệt liệt trong season 8 sao lại ko review For your Entertainment của anh í? :”> Paula nói là ko review nó vì “ta nay đi tu rồi”, là sao vậy, có thể nói rõ hơn không? :D Em thấy album này theo kiểu mainstream, lời lẽ cheesy wa’, làm video cũng chẳng hay, chỉ được mỗi cái hát là Adam-ish :D Paula và các bitches nghĩ sao?

        4. “Gaga đã xuất hiện sai thời điểm, và Pauler nhỡ quăng cha quả tim của Pauler cho đứa khác rồi” Ai là người được Paula quăng quả tim cho thế? ;))

        5. Các bitches có thích nhạc lãng mạng, nhưng chê một số bài là sến và cheesy. Vậy theo các bitches, đâu là ranh giới? Làm sao phân biệt được bài nào là lãng mạng, ca ngợi niềm tin và hi vọng đúng mức với bài nào cheesy? :D

        6. Paula và các bitches có học hay được đào tạo về âm nhạc không? Em cũng thích nhạc nhưng hiểu biết thì tương đối thôi :”> chắc cái này phải tự học hỏi nhiều

        7. Nghe nhạc cần thời gian và có khi cả tâm sức để khám phá cái hay. Có bao giờ Paula và các bitches bận rội quá ko có thời gian cảm nhận? Có bao giờ thấy busy quá rồi lao mình vào mainstream nghe cho nó khỏe không? :D

        8. Người ta nói một bài hát có hay hay không là do sở thích mỗi người khác nahu. Nhưng em nghĩ, cũng một phần là trình độ thưởng thức của mỗi người khác nhau :D Các bitches có nghĩ như vậy ko? :D

        9. Hôm nay là sinh nhật 1 tuổi của blog, các bitches của chúng ta có định viết entry gì đặc biệt ko? :D

        10. Các bitches cảm thấy thế nào về hôm nay? ^^

        Happy VNNTB1ches’ 1st anniversary!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
        PS: em có gửi mail vào vnntb1ches@gmail.com mà nó báo là địa chỉ mail ko tồn tại, là sao?????!!!!!!

        • 9 drunkerthanpaula
          July 1, 2010 at 11:19 am

          1. Qua YAN. Editor Dê, reviewer bao gồm Lộn, Moon, và Di (tức Pauler) cũng như ca sĩ Thiên Thần =)) Quen nhau vì thích bạn Adam và tính tình rất bitching của bạn ấy trên Idol. Sau này gia nhập có designer Kei, người đã design cái banner cho website cũng như một số cover cho Best Tracks.

          2. có lẽ ai cũng bận. và ko rảnh nói về AI

          3. lúc đầu P có định review, nhưng sau đó chán nên thôi.

          4. quăng tim cho indie

          mấy câu sau trả lời sau

  3. 10 Kei
    July 1, 2010 at 5:05 pm

    Thích nhất là tightrope và come alive :D.

  4. 11 B
    July 14, 2010 at 9:25 pm

    Quên mất faves: có Dance or Die, Faster, Cold War, Tightrope, Oh Maker, Come Alive, Neon Valley Street, Wondaland và BaBopByeYa :”)

  5. 12 drunkerthanpaula
    July 15, 2010 at 12:12 pm

    Fav của Paula là Tightrope và Oh, Maker :”) Tightrope có màn thổi horn nghe phê mông quá :”)


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

%d bloggers like this: