14
Dec
11

Top Albums of 2011: 10-1 (Part 3)

 Designer: TIM

Phần 1 (30-21) | Phần 2 (20-11) |

10. radiohead

THE KING OF LIMBS

[Self-released ]

Radiohead có lẽ là ban nhạc duy nhất được giới phê bình đối xử một cách lịch sự như thế. Đơn giản là vì từ The Bends cho đến In Rainbows toàn được đón nhận từ “very good” cho đến “masterpiece”. Thậm chí khi album như Hail To The Thief hay Amnesiac không thật sự thay đổi cả dòng chạy của nhạc alternative như Kid A hay Ok Computer, Radiohead vẫn dễ dàng viết ra các classic như Pyramid Song, All I Need, There There để chiều lòng tất cả. Và rồi ta có The King of Limbs, album được nhiều người cho là tệ nhất của nhóm từ Pablo Honey. Với tôi, King nghe như 2 EPs khác biệt được gắn vào nhau. 4 bài đầu đậm ảnh hưởng từ nhạc electronic của UK mà Thom Yorke vẫn luôn ca tụng, 4 bài sau thì đậm chất giao hưởng giữa thử nghiệm và “alternative” mà ban nhạc đã làm rất xuất sắc trong In Rainbows. 4 bài đầu nghe như 4 cơ thể thiếu đi một bộ xương; thú vị nhưng không vững. 4 bài sau thì không mới gì trong ý tưởng nhưng không phải chê gì. Tuy nhiên, nếu bạn có cơ hội nghe qua phiên bản của các bài trên qua đĩa From The Basement, 4 bài đầu tự nhiên trở nên có sức sống, và lúc này cái “khung xương” cần thiết kia hiện hữu rõ ràng (đặc biệt là Bloom). Có lẽ không công bằng lắm khi tôi đang đánh giá album này dựa trên version từ Basement, nhưng càng nghe, tôi càng bị thuyết phục rằng Radiohead thật sự xứng đáng với sự lịch sự mà giới phê bình dành cho họ. Có lẽ ban nhạc đang bước lùi với The King of Limbs, nhưng album vẫn dư thừa những ý tưởng tuyệt vời để khiến tôi mãi là fan, và mãi mong chờ bước đi kế tiếp của Thom và đồng bọn. – Pauler

09. wild beast

SMOTHER

[ Domino ]

Lần đầu khi nghe Two Dancers (2009) của Wild Beasts, bạn đã phát hoảng trước giọng ca chót vót, ướt át, mềm mại của anh Hayden Thorpe và tống ngay album này vào một xó. 2 năm sau, sau khi nghe Smother, và nghe lại 2 album cũ, bạn trở thành một fan bự của nhóm. Có lẽ khắp giới âm nhạc, khó mót đâu ra một vocal nam hát rock nắn nót đáng sợ như Thorpe. Và mặc dù là một vocal nam nhưng anh xử lý, ngân rung, lên xuống tone không khác gì đồng hương Kate Bush. Nhưng chính vocal của Thorpe và chất âm nhạc có phần “sensual” của Wild Beasts lại tạo thành một tổng thể không thể tách rời. Cũng không thể không nhắc đến Tom Fleming, một nửa linh hồn vocal còn lại của nhóm, khi anh thường trực đóng vai trò như một chiếc mỏ neo vững chắc, hỗ trợ Thorpe về mặt vocal lẫn truyền tải cảm xúc suốt album.

Trong khi album Two Dancers (2009) nhận được sự tán tụng của hầu hết các nhà tạp chí thì đến Smother, một số ít đã trở nên e dè hơn. Smother lấy cảm hứng từ Frankenstein của Mary Shelley, và như Frankenstein và con quái vật, những con người trong 10 bài hát của album đầy khát khao nhưng lại cô đơn, lạc lõng đến lạ kỳ. Những ám ảnh về tình yêu và tính dục xuất hiện xuyên suốt tất cả các tracks. Cân bằng với chất văn học (ngoài Mary Shelley, cảm hứng được lấy từ một số tác giả khác như Shakespeare, Anais Nin, Samuel T. Coleridge), những câu hát trần trụi “New squeeze, take off your chemise/ and I’ll do what I please” (Plaything) đặt trong không gian của album đã tránh được sự thô tục thông thường và tạo được một chiều sâu phức tạp nhất định cho các bài hát. Âm nhạc của Smother cũng yên tĩnh, synthetic hơn các album trước. Hayden Thorpe cũng bớt những cú hét lên falsetto chói tai đột ngột như trong Two Dancers hay Limbo, Panto và để âm nhạc của anh thấm dần vào trái tim người nghe. Sau những hoang mang mà 10 tracks trong album mang lại, trong bạn đọng lại một câu hỏi: liệu sự âm ỉ (smother) này là của một ngọn lửa đang chuẩn bị bùng lên hay của một đám cháy đang lụi tàn?

D.V

08. YUCK

YUCK

[ Fat Bossum, Mercury ]

Note nho nhỏ dành cho các nghệ sĩ mới tràn đầy influence của các thế hệ trước: nếu chịu ảnh hưởng gần như 100% thì tốt nhất là phải làm cho đỉnh. Và đó là kế họach của Yuck. Cái nhộn nhịp đầy sức sống của một ban trẻ nổ tưnng bừng trên Get Away, The Wall, Operation. Đến cả ballad, họ vẫn giữ giai điệu và hook làm trọng tâm: Stutter, Suicide Policeman, hay Shook Down. Tôi không nghi ngờ năng lực của Yuck vì họ giữ hai chữ “hook” và “catchy” liên tục trong 11 bài, và không một lúc nào những bài này nghe rẻ tiền hay trẻ con. Cho họ thời gian. Có thể một lúc nào đó họ sẽ trở thành điều tuyệt vời nhất cho những fan vẫn còn luyến tiếc My Bloody Valentine, Pavement, hay Dinosaur Jr. – TD

07. KATY B

ON A MISSION

[ Rinse, Columbia ]

Khi xem Vietnam Idol mùa thứ 3, tôi nhớ nhạc sĩ Quốc Trung có nói với Uyên Linh rằng điều mà anh thích ở cô vẫn là cái thẩm mĩ âm nhạc. Cô biết chọn bài, cô biết cách hát sao cho truyền cảm mặc cho kĩ thuật lúc ấy còn vụng thế nào, và có lẽ đó là vì sao Linh chiến thắng rất thuyết phục năm đó. Justin Timberlake, Missy Elliott, hay Robyn, họ đều là nghệ sĩ làm nhạc cho mainstream và ngay từ single đầu tiên, họ không bao giờ che giấu sự thật rằng họ muốn bài hát của mình thành hit. Dĩ nhiên, cái phân biệt giữa ba ngừơi trên và hàng lọat Thalia, Avril Lavigne, Jessica Simpson, Pussycat Dolls của thế giới vẫn là ở chỗ họ biết thế nào là “hit” và thế nào là “chất lượng”. Single On A Mission được tung ra năm ngóai và nó dễ dàng đặt Katy vào thẳng những nghệ sĩ còn có thể đi rất xa nữa. Kết hợp từ breakbeat, 2-step, UK garage, dubstep, bass, R&B, On A Mission nghe dính kết và mạch lạc đến ngạc nhiên. Một phần là ở ba producer Benga, Geeneus và Zinc đều rất hiểu “pop”, và họ làm rất tốt vai trò phối khí cho album. Mỗi bài đều tràn ngập hook, và đứng hoàn hảo giữa ranh giới của nhạc dance underground với pop đương đại. Một phần thì vẫn phải dành cho tài sáng tác khá chắc tay của Katy. Cô hát về club, về trai gái tán tỉnh, về đi chơi, và về cả một anh nào đó, nhưng ít khi nào bài hát lại trở nên sến rện và sáo rỗng. Những dòng lyrics trên giấy tờ là lố bịch thì qua giai điệu của cô và phần production, tất cả nghe vừa vặn với nhau. Vẫn có ngừơi tuyệt vời hơn Katy trong địa hạt pop, vẫn có người sản xuất hay hơn, nhưng pop vẫn cần những nhân mới như cô, một nghệ sĩ trẻ biết mình muốn gì và cần gì. – Pauler

06. GANG GANG DANCE

EYE CONTACT

[ 4AD ]

Brooklyn (New York) nổi tiếng vì những ban với trí tưởng tượng đầy sáng tạo hơn cả quảng cáo sữa Yo-Most, và Gang Gang Dance đơn giản là một ví dụ xuất sắc cho truyền thống này. Eye Contact ngập tràn màu sắc, ngập tràn ảnh hưởng, và ngập tràn “quái dị”. Nhiều lúc nghe Chinese High thì nghĩ đến Hương Ngọc Lan của Mỹ Linh, nghe Mindkilla hay Romance Layers có cả tiếng phóng phi tiêu của ninja =)) Vài bài khác thì nhảy tia tỉa từ dance qua tribal, qua worldbeat kiểu M.I.A, qua R&B, soul, electronic. Đấy thế, GGD vẫn là những người yêu nhạc pop khi bạn thật sự nhìn qua những lớp tắc kè bông của ban nhạc. Bây giờ, bạn muốn trở nên kì cục, trở nên quái dị đến mức không nhận ra trong âm nhạc hoàn toàn không khó, nhưng giữ được cái muôn màu muôn vẻ mà vẫn catchy cỡ Top 40 thì đó vẫn nằm ở có tài. Và tài thì ban nhạc này chưa bao giờ thiếu. Và catchy thì Lady Gaga hay Katy Perry cứ phải gọi là cụ. – Paula

05. M83

HURRY UP, WE’RE DREAMING

[ Naive ]

Kể từ Saturdays = Youth, giới phê bình hầu như không còn mặn mà với M83. Một số “Year-end List” được tung ra gần đây hầu như vắng bóng LP mới của nhóm Hurry Up, We’re Dreaming, mà theo ý bạn là một trong những album đỉnh nhất năm. Các phân đoạn shoegazing trước nay vốn bị so sánh với My Bloody Valentine dường như chưa bao giờ sáng sủa, cởi mở và đầy dấu ấn riêng đến thế. Những ảnh hưởng từ 80s được tận dụng triệt để và được thổi vào hơi thở hiện đại trở nên mới mẻ hơn. Hàng lớp synth chồng lên  nhau không hề bị “nhựa” mà lại vô cùng hữu cơ.

Album mở đầu bằng Intro đầy rộng mở với những cú belting tưng bừng của Zola Jesus và giọng falsetto vỡ òa của Gonzalez. “We didn’t need a story, we didn’t need a real world / We just had to keep walking. And we became the stories, we became the places.” Bước qua những hoài niệm niên thiếu trong Saturdays = Youth, M83 bước vào địa hạt những giấc mơ của tuổi thơ, một cach chân thành, tự nhiên nhất. Trong đó, những đứa trẻ là bạn bè của nhau, nắm tay vui đùa dưới bầu trời xanh, hóa thành hàng vạn chú ếch nhảy nhót quanh trái đất, rồi những viễn tưởng trong không gian, những vị vua tí hon trong thế giới của riêng chúng v.v… Và trước khi phán xét rằng Gonzalez hời hợt và ngớ ngẩn, hãy nghĩ xem sẽ nhàm chán đến thế nào khi thế giới đầy rẫy những đứa trẻ trưởng thành quá nhanh và quá thông minh? Outro của album kết lại album bằng phần orchestra bay bổng được dồn lại bằng phần synth và trống cuối bài rồi kết thúc một cách đột ngột khiến ta như choàng tỉnh dậy từ một giấc mơ đẹp. Thứ âm nhạc tốt như vậy, lại được thực hiện bằng một double LP, quả thật ít có album nào trong năm 2011 có thể làm “mãn nhĩ”người nghe hơn. – D.V

04. DESTROYER

KAPUTT

[ Merge ]

Album về tình yêu mình thích nhất của năm. Dan Bejar nổi tiếng xưa nay trong vai trò một nhà thơ, nhưng hiếm khi nào âm nhạc của anh lại thấm đậm cái hồn trong lời anh viết như trong Kaputt. Album thứ chín của nhóm khai thác sự kết hợp giữa disco, soft-rock, jazz, và indie pop mà họ đã giới thiệu qua đĩa đơn Bay of Pigs dạo trước (2009). Khoảnh khắc hay nhất của album có lẽ nằm ở lúc Bejar phối disco vào và đem một cái gì đó rất hiện đại vào bài hát (Kaputt, Bay of Pigs). Nhưng không phải vì thế mà những bài êm đềm hơn như Chinatown hay Blue Eyes lại không đáng nghe. Mỗi tiếng sax, mỗi tiếng synth, hay mỗi lúc Bejar và giọng hát nữ trao đổi lời thương qua lại, Kaputt chỉ rất biết dùng cái gì để gợi tả cái cảm giác phân phấn của tình yêu. Một trong những lí do khác Kaputt tuyệt vời đến vậy là vì những dòng nhạc Bejar dùng đều là những thứ dễ gợi lên chữ “cliché”, nhưng nghe Kaputt rồi, chữ ấy có lẽ là từ cuối cùng một người có thể dùng để diễn tả album. – Pauler

03. BON IVER

BON IVER, BON IVER

[ Jagjaguwar, 4AD ]

For Emma, Forever Ago thay đổi rất nhiều thứ. Tôi không nghĩ là nói quá khi cho rằng album đầu tiên của Justin Vernon thật sự thay đổi một phần cuộc sống của tôi trong tư cách người yêu nhạc. Album thứ hai thay đổi rất nhiều, mà trong đó rõ nhất vẫn là nó không còn dựa vào một câu chuyện để tôn vinh cho cái mythology của người hát nữa. Tất cả những gì Vernon có là bản thân anh, một ban nhạc hoàn chỉnh, và một âm thanh lớn hơn, hùng vĩ hơn. Calgary chẳng hạn, lúc mới ra nhiều người bảo single nghe như nhạc stadium-rock của Coldplay và họ không sai. Bài hát như thể muốn được thuộc về một sân khấu lớn hơn, nhiều người nghe hơn, và nhiều người cùng nhau hát hơn. Tôi vẫn thích Emma hơn vì album nghe cô độc như thể mỗi người nghe chắc đều nghĩ album đó là dành cho riêng họ. Bon Iver, Bon Iver không phải vậy. Nó khẳng định rằng nó sẽ khác với For Emma ngay từ khi dàn trống vang lên trong Perth, nhưng lạ thay, cảm giác trống vắng vẫn còn, chỉ có điều BI là kiểu album hai người ôm nhau nghe và khóc hu hu. Còn For Emma là kiểu ngồi một mình và khóc đến khi mặt mày xấu xí.

Nói nhiều về Emma quá thì phải quay lại để nói vì sao album này vẫn là một trong những album hay nhất của năm. Thứ nhất, bạn vẫn nghe ra thay đổi nhưng bạn vẫn dễ nhận ra nó “Bon Iver” đến thế nào: cái không khí ambient của guitar và cái “cryptic” trong lyrics, những lời tuy không hiểu nhưng cứ tạo nên những hình ảnh vấn vương. Thứ hai vẫn là ở cách nói “fuck you” rất tế nhị khi Vernon đem âm thanh keyboard mà bao nhiêu người từng căm thù để kết lại album trong Beth/Rest. Nhưng cả khi dùng cái tiếng keyboard này mà anh vẫn lột sạch đi cái ít chân tình, ít thật của dòng nhạc và khiến bài hát nghe  như thế, thôi thì có muốn chê album cũng hơi khó. Chúc anh may mắn giật Grammy vào tháng 2 năm tới vậy. Và nếu không giật, hy vọng anh lên tivi và hát để Paula có lí do ngồi uống rượu và tự kỉ. – Paula

02. ST. VINCENT

STRANGE MERCY

[ 4AD ]

Nữ tính, hung bạo, thánh thót quyến rũ, ầm ầm thô thiển, Strange Mercy là thế, St. Vincent là thế. Nếu đĩa đơn Actor (2009) có nói lên điều gì thì đó là đừng bao giờ để gương mặt hiền hậu của Annie Clark đánh lừa bạn. Cô hát nồng nàn đến thế nào thì cô chơi guitar như voi đập vào mặt như thế đó. Nếu Strange Mercy chỉ là một album của nhiều trái lập, nó đã chẳng được nhiều bạn đọc bình chọn đến thế. Album trở thành á hậu 1 của Bitches năm nay vẫn là vì Clark không bao giờ để kĩ thuật chơi guitar che lấp đi cái hook trong âm nhạc của mình. Và đến khi ta nghĩ album sẽ toàn guitar riff đùng đùng, vẫn có Surgeon hay Northern Lights để chứng minh Clark vẫn tìm ra cách làm mới rock ballad như thế nào. Ở đâu đó vẫn là một nghệ sĩ có đôi tai xuất sắc cho hook, và ở đâu đó vẫn là một trái tim mềm mại làm vạn fan nam (lẫn fan nữ) điêu đổ. – TD

01. JAMES BLAKE

JAMES BLAKE

[ ATLAS, Polydor ]

Sau 3 EPs quá xuất sắc trong 2010, mọi con mắt đổ dồn về Blake và hồi hộp chờ đợi album đầu tay của anh. Cuối cùng thì album ra lò, và những fan từ giới electronic chưng hửng vì một chuyện: Blake hát. Họ là những fan đầu tiên của anh, họ yêu anh vì CMYK sử dụng vocal sample hết sức tuyệt chiêu, cũng bao nhiêu vocals nữ R&B như Joy Orbison hay Burial, nhưng anh bỏ mood và quăng mọi sức lực vào “groove”. Và rồi cả 2010 là toàn Look I found her/Red coat/Look I found her hay Talk on the phone/But see, I don’t know if that’s good. Đấy, ai cũng hy vọng anh sẽ đi theo phong cách đầy funky, đầy chao đảo, đầy vocals xuất sắc từ R&B của năm 90s, nhưng anh lại bỏ đi những cái “catchy”, và anh làm một album với tiếng piano chiếm phân nửa.

Tôi không nghĩ album đầu tay của Blake hoàn hảo. Anh không ấn tượng trong vai trò nhạc sĩ như anh trong vai trò một producer. Nửa sau của album như những tác phẩm chưa hoàn thiện. Give Me My Month là một trang nhật kí được viết dang dở. To Care (Like You) và I Mind nghe như một nửa của một bài hát dài hơn, và Measurements thì thẳng thắn mà nói nghe hệt nhạc gospel. Nhưng cuối cùng, tôi nghĩ lí do album này dành được nhiều tình cảm đến thế vẫn là vì nó có một “vision” và một tiếng nói riêng. Tôi không nhớ ra một nghệ sĩ trẻ nào táo bạo và có thể dung hợp giữa hiện đại (electronic) và  truyền thống (piano, vocals) một cách trọn vẹn như anh. Tràn đầy trong effects từ phần mềm điện tử nhưng lại vẫn thấy rất con người. Không phải là catchy kiểu CMYK hay I’ll Stay nhưng vẫn khiến người nghe mở đi mở lại The Wilhelm Scream hay I Never Learnt To Share. Và ừ thì tôi hiểu tại sao nhiều người phàn nàn cho rằng đây là album buồn ngủ nhất họ nghe trong 2011, nhưng với tôi, JB là hướng đi của tương lai, là thứ âm thanh đột phá và xứng đáng nhất trong nhiều năm qua. Vì lẽ đó, tôi nghĩ không có gì vô lí khi đặt album ở vị trí quán quân. – TD


14 Responses to “Top Albums of 2011: 10-1 (Part 3)”


  1. 1 nimmoHP
    December 16, 2011 at 4:20 pm

    Cuối cùng, trong top 30, mình mới nghe 4 và 21, nhưng chỉ có 21 là thích, hờ hờ hờ. Công nhận mấy thể loại indie khó nghe quá chừng,

  2. December 16, 2011 at 4:40 pm

    Album Radiohead kiếm mãi không ra link tốt :(

  3. 7 D.V
    December 16, 2011 at 6:52 pm

    I´d been stuck with Wild Beasts for months and M83 was the big escape :x
    Ma tuong ban dau chi co minh cho 2 ban nay vao list chu :))
    But no PJ Harvey???

  4. 10 Mooracle
    December 16, 2011 at 6:53 pm

    The King of Limbs grouprip: https://rs458tl.rapidshare.com/#!download|458tl5|454293069|TKOLRR.rar|48539|R~5841C463F2DB4FEA8338E56689DBA56F|0|0

  5. 12 Meo
    December 16, 2011 at 9:45 pm

    Chậc, mình đã đoán không sai ngôi vị quán quân

    Kiểu gì vẫn chỉ có một JBlake (cho đến thời điểm này), Và một JBlake vẫn rất đỉnh <3

  6. 13 ClarkNguyen
    December 17, 2011 at 12:00 pm

    Vậy là dự đoán đúng cho Yuck và James Blake :))

  7. January 11, 2012 at 1:25 am

    “Pa gia lua tinh” St Vincent cua minh cuoi cung cung top 2!!!!!! So happy~~~~ Cam on Paula va cong su da cho ra cai chart cuc hay nay nha^^~ Chuc moi nguoi nam moi cang ngay cang “YAN” va Paula it “drunker” di nhe


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

%d bloggers like this: