20
Dec
12

VNNTB’s Favorite Tracks of 2012: 10-1


40-39 2012

Design của Danny T Louis / Danny Del Rey

10. Disclosure

Latch (feat. Sam Smith)

LatchThể Lọai: R&B

10

Cần phải nói thêm gì về “Latch“? Với Sam Smith trong vai trò vocals, Disclosure sản xuất ra bản Electro-R&B nóng hết cả mặt này. Bộ đôi anh em Guy và Howard Lawrence vẫn hay “chìm” trong hàng lọat các nhân vật khác của dòng UK Garage/Bass vì họ sử dụng nhiều ảnh hưởng cũ để làm nhạc pop thay vì sáng chế một phong cách đặc trưng cho riêng mình.  Sự thiếu cái riêng này hoàn tòan có thể tha thứ khi những âm thanh synth kia được làm đúng, được hỗ trợ với một cấu trúc vững, một giai điệu ngập trong nồng nhiệt của tuổi trẻ, và trên hết, một đôi tai biết club đang cần gì.

————————————————-

09. Beach House

Wild

BloomThể Lọai: Dream Pop

09

Giữa hai bài mình thích nhất từ Bloom, “Irene” và “Wild“, mình nghĩ bài đầu vẫn là giây phút xuất thần hơn cả từ Beach House. Họ trở nên đầy tham vọng hơn cả trong xây dựng bài hát; BH khai thác cái mộng mị của nhạc shoegaze nhưng vẫn giữ những gì làm nên âm thanh đặc trưng của ban nhạc: guitar của Alex, vocals mây khói từ Victoria và cái nồng nàn khó tả trong texture của production. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng chọn “Wild” vì một điều: đây là khoảnh khắc duy nhất từ Bloom ban nhạc bỏ đi cái “cryptic” trong ca từ. Họ kể chuyện với ngôn ngữ thẳng thắn hơn. Họ hát về tình yêu, về giây phút dông bão của cảm xúc và của những gì đáng tiếc (Heartless to say/Go on pretending). 5 phút của “Wild” là 5 phút ta đi qua bão tố, ta thấy ở đâu đó là hai con người với đầy khao khát muốn yêu, được yêu, nhưng họ cũng tràn đầy phức tạp của riêng mình. Nếu “Irene” là bài hát khẳng định BH hoàn toàn có thể trưởng thành và khám phá những góc đi mới trong âm nhạc, “Wild” chính là bằng chứng cho thấy BH là ban dream-pop xuất sắc nhất hiện tại.

————————————————-

08. Eprom

Regis Chillbin (Machinedrum Remix)

Regis ChillbinThể Lọai: Hip-Hop

08

Khi Azealia Banks dùng bài này để cho vào mixtape Fantasea với tựa “Aquababe“, một điều bất ngờ xảy ra: Banks hoàn toàn bị phần production lấn át đến mờ nhạt. Ngay cả dòng mở đầu (This public pool/These bitches ain’t no mermaid) cũng không đem lại thành quả gì ngoài việc thôi thúc người nghe đi tìm bài gốc . Bản original của Eprom là một thử nghiệm hết sức sáng tạo; bằng một đoạn hook rất nhắng, anh dùng những tiếng synth với texture khác nhau để chơi lập đi lập đi phần hook này.Nói đơn giản thì là một đoạn giai điệu nào đó, người nghệ sĩ ở phần 1 chơi bằng piano, rồi nối tiếp chơi bằng guitar, rồi sáo, rồi trumpet cũng chính đọan nhạc đó. Qua tay producer máu mặt từ New York Machinedrum, anh dựa dẫm rất nhiều vào nửa đầu của bản chính và liên tục tặng thêm vài lớp synth, chen hàng lọat percussion nóng mặt làm bài hát nghe ridiculous gấp 10 lần bản của Eprom.

————————————————-

07. Rhye

The Fall

The FallThể Lọai: Pop

07

Rhye là bộ đôi nhạc soul/dream-pop đến từ Los Angeles và năm nay họ đã giựt giải Nhạc Chuyên Cho Baby-Making từ tay The xx. Nghe single “Open” của nhóm, điều nổi bật hơn cả chính là giọng hát của Michael Milosh. Lúc đầu cứ đinh ninh đây là giọng nữ vì nghe không những hao hao Sade mà cách anh hát tưởng như một cái chạm khẽ trong giấc mơ. Đến “The Fall”, gần như khó có thể nào đóan ra giới tính của người hát nếu không đọc trước info về nhóm. Theo chân single đầu, “The Fall” dựa vào tính chất “androgynous” trong phần thể hiện để tạo ra cảm giác huyền bí bao phủ bài hát. Những tiếng cầu khẩn “Oooh make love to me/One more time/Before you go away/Why don’t you stay” rơi thanh thản với đọan piano loop và cùng lúc đưa cái trông chờ nhớ nhung đến đỉnh điểm. Cái chậm rãi cho đến cả khi đọan strings chen vào đưa người nghe vào nỗi buồn thơ thẫn của “The Fall”. Ẩn đâu đó là một nhân vật cứ nhảy slow-dance từ lúc hạnh phúc đến khi ngọn lửa ngày nào tàn dần. Lúc Milosh van nài “Don’t run away/Don’t slip away, my dear..”,  tiếng anh chỉ còn mỗi anh nghe, mặc cho bản dance trôi mãi.

————————————————-

06. Passion Pit

Constant Conversations

GossamerThể Lọai: R&B

06

Đọc xong mục Cover Story giữa ca sĩ chính Michael Angelakos và cây bút Larry Fitzmaurice (Pitchfork), cảm nhận về “Conversations” khác đi hẳn. Phần vocals trong bài không hoàn hảo nếu như ta nhìn vào mặt kĩ thuật này nọ. Angelakos đôi lúc cố hát những nốt cao hơn so với quãng và kết quả falsetto anh cứ vài ba chỗ cứ lịm đi. Mặc cho một dòng nhạc đòi hỏi kĩ thuật vững lẫn cảm xúc, Angelakos vẫn khiến “Conversations” trở thành một highlight bởi cái đẹp của bài này, mình nghĩ trên hết, là về những gì không trọn vẹn.

If there’s a bump in the road, you’d fix it/But for me, I just come off the road. Câu này làm mình chú ý rất nhiều nhưng phải đọc đến Cover Story mới hiểu toàn bộ ẩn ý đằng sau nó. “Constant Conversations” là những gì xảy ra giữa Angelakos và người yêu. Anh bị bipolar, nhiều lần bị nuốt chửng bởi chứng trầm cảm và chị là người liên tục kéo anh dậy. Những cuộc tâm sự liên tục ấy là câu chuyện về chung thủy lẫn hết lòng của hai người yêu nhau. Một bên có thể cho là bị điên vì yêu một người vô phương cứu chữa, nhưng nghe “Constant Conversations” lại không thể không cảm thấy vẫn có hy vọng cho cả hai, vẫn còn con đường đến hạnh phúc mà họ mong đợi.

Giả sử không biết chuyện đằng sau “Constant Conversations“, mình vẫn yêu bài hát và nghĩ rằng nó dễ dàng là một trong những bài R&B hay nhất trong mấy năm gần đây; từ phần hòa ca rất đẹp của nhóm nữ Erato, giai điệu hết sức xuất sắc và dĩ nhiên, sự dung hòa tuyệt vời giữa kiểu synth-pop bóng bẩy của Passion Pit với ảnh hưởng đặc trưng của R&B đương đại. Tuy một phần hơi thất vọng vì album Gossamer không đi theo hướng R&B này nhiều hơn, một phần khác khiến mình nghĩ “Constant” nghe như một sáng tác tình cờ của ban nhạc. Và có lẽ vì bài hát ngẫu nhiên và riêng biệt đến vậy, nó trở nên đặc biệt đáng trân trọng hơn bao giờ hết trong âm nhạc 2012.

————————————————-

05. Frank Ocean

Thinkin About You

channelORANGEThể Lọai: R&B

05

Đảm bảo “Pyramids” hoặc “Bad Religion” sẽ xuất hiện nhiều hơn trên danh sách những single xuất sắc ở các tạp chí và website âm nhạc. Vẫn chọn “Thinkin About You” vì bài hát gắn liền với nhiều kỉ niệm của mình hơn. Điều muốn nói về Ocean và bài này là, phần lớn ballad bây giờ (nhạc Pop lẫn R&B) đều nghe rất là sến. Tệ hơn nữa, nghe những ca sĩ của thế hệ bây giờ trình bày bài hát, họ quá để ý đến hát “đẹp” mà quên đi hoàn toàn việc hát “sâu”. Đến cuối, những ca từ đã sến trên giấy tờ kia nghe trăm ngàn lần gai tai hơn qua phần hát cứng nhắc này. Tìm được một giọng ca đẹp và hiểu trình bày như Ocean là rất đáng quí. Tìm một giọng ca có khả năng viết ra một bài giản dị ở mọi điều, nhưng vẫn khiến nó rất riêng tư thế này lại càng khó hơn.  Có lẽ ai cũng phần nào đồng cảm với “Thinkin About You” ở một góc độ nào đó, và cũng hy vọng không thí sinh nào từ các cuộc thi hát chạm vào bài này. Hãy như Pauler và chỉ hát bài này trong phòng tắm thôi nhé

————————————————-

04. Chromatics

Lady

Kill For LoveThể Lọai: Synth-Pop

04

Trong bộ phim Lost in Translation có một cảnh gây ấn tượng rất sâu sắc với mình. Khi Charlotte gửi gắm ưu tư  vào phố đêm của Tokyo qua cửa kính của chiếc taxi, “Sometimes” của My Bloody Valentine vang lên, day dứt giữa không gian ảo và thực, giữa nỗi niềm cô đơn ở xứ lạ cho dù xung quanh có bao nhiêu người quen đi chăng nữa. Cảnh ấy chỉ vỏn vẹn trong 1 phút rưỡi nhưng nó khắc họa rất hoàn hảo cái cảm giác khó tả ấy.

Lady” của Chromatics cũng là một soundtrack của một đêm ngồi xe như vậy. Nhưng khác với không khí ấm nồng của “Sometimes”, “Lady” lạnh lung ngay từ tiếng synth mở màn bài hát. If I could only call you my lady/Baby I could be your man….Những dòng lyrics này đọc sơ qua thì thấy rất bình thường. Chỉ khi qua cách hát mơ màng của Ruth Radelet trên nền nhạc, sự đổi vai xưng hô trong bài trở nên đặc biệt và có sức nặng hơn cả. Cách cô giữ nguyên thần thái xuyên suốt “Lady” càng như mê muội trong khi tiếng synth bắt đầu dày đặc thêm với phần synth bass và những đọan groove được tạo ra bởi tiếng “drop” và beat quen thuộc của nhạc house. Những xao động sau đấy trong phần synth chính của bài là những bất chợt thức tỉnh ra khỏi cái vô hình của phố đêm, rồi đến khi những lời bày tỏ Baby if you want me to come back/You got to give me something to do.vang lên vô vọng, “Lady” chỉ là một chuyến xe đi mãi vào màn đêm.

————————————————-

03. Lindstrøm

Rà-àkõ-st (Todd Terje Extended Edit)

Thể Lọai: Disco

03

Bản gốc bài này từ Smallhans là một ý tưởng hay cho dancefloor nhưng chưa được thực hiện tốt nhất có thể. Vì thế, cảm giác cuối cùng khi nghe bản của Lindstrom là dang dở. Qua sự chỉnh sửa của Todd Terje (một trong những tiên phong của nhạc electronic trong lĩnh vực vocal sample), “Ra-ako-st” trở thành single disco ai cũng trông chờ: thẳng tấp, thôi miên, groove hết xẩy, và cách blend từ synth này qua âm thanh instrument khác không còn gì bằng. Có lẽ mình là người duy nhất chết mê mệt vì bài này (chẳng thấy list nào đề cập đến Lindstrom – buồn 10 phút) nhưng ai thèm quan tâm khi âm nhạc làm mình cảm thấy thoải mái và tự tin đến vậy.

————————————————-

02. Jessie Ware

Running/Running (Disclosure Remix)

DevotionThể Lọai: R&B

02

R&B đã trải qua nhiều thay đổi xuyên suốt mấy chục năm qua. Từ thời 1980s với những bản slow jamz (Stephanie Mills, Babyface), 1990 theo chân sự len lỏi của hip-hop để thành R&B đương đại (Mariah Carey, TLC, Aaliyah), 2000 chứng kiến R&B mượn lại những yếu tố làm nên dòng nhạc như soul, jazz, (Alicia Keys, John Legend), thì đến những năm gần đây, dòng nhạc đi sâu đến một culture của giới underground để cho hàng lọat Jamie Woon, The Weeknd, Evy Jane mở rộng ngôn ngữ của R&B hơn bao giờ hết.

Trái với những ví dụ kể trên, những người dựa vào sự trầm tư, nocturnal lẫn tăm tối xung đột trong phối khí để mang những gì mình nói đi xa hơn, Jessie Ware mang lại mô hình giọng hát mạnh mẽ, quyết liệt, và từng câu từng chữ dồi dào trong cảm xúc như những Stephanie Mills, Chaka Khan hay Sade trước đó. Thậm chí, sau vài lần nghe single cực kì xuất sắc “Running” này của Jess, không thể không nghĩ đến “No Ordinary Love” hay “Cherish The Day”  của Sade. Tuy nhiên, chữ “rip-off” dùng ở đây là rất bất công vì trong khi Jessie để influence của mình hiện rõ, nàng và producer Julio Bashmore thật sự trau chuốt để “Running” giữ cái lửa của Sade lẫn khóac lên người cái “cool” của một production được làm đúng và thông minh.

Những đọan synth âm hưởng 80s như những sợi dây bị xiếc quá chặt liên hồi  rung bần bật trên nền trống hành quân. Rồi sau đó, những đọan guitar loop cứ vang lên sau mỗi chord để đánh dấu cái bất lực của nhân vật nữ trong bài: “All I want to know/ Is it mutual? / Then I never meant to leave…“. Giọng của Jess thật sự là một trong những giọng hát nổi bật nhất trong những năm gần đây của R&B, mặc cho bao nhiêu lần cô không được khai thác 100% khi đi hát khách mời cho SBTRKT (quá hiền – “Right Thing To Do“) hay Joker (quá lố “The Vision“). Ở “Running“, cái cân bằng giữa yếu đuối bất lực lẫn vỡ tan trong cảm xúc được hiện rõ. Đọan pre-hook “All I want to know...” khi được dùng lại làm bridge mang hẳn một sắc thái khác khi Jess belting trên nền phối khí sắc sảo của Bashmore.

Nghe đi nghe lại, điều bất ngờ hơn tất cả về “Running” là việc nó đơn giản thế nào. Bạn sẽ dễ dàng tìm ra những bài mới lạ hơn trong production hay cấu trúc từ SBTRKT hay The Weeknd, nhưng đến cuối, “Running” vẫn ngoảnh vai cao đầu đứng với các ông trùm kia bởi vì nó đánh mạnh vào giai điệu và thể hiện – 2 điều cốt yếu mà nhiều nghệ sĩ quên sạch khi họ quá bận rộn trong việc cố trở nên khác với mọi người.

————————————————-

01. Grimes

Genesis

VisionsThể Lọai: Pop

01

Nghe “Genesis” từ cuối 2011 đến nay, tất cả những gì Grimes hát mình nghe ra là “My heart will never be…” và đọan “Everything, everything, everything”. Một phần vì cách dàn dựng vocal của Claire Boucher luôn nhắm đến vẻ ethereal của một thế giới khác. Phần khác là do giọng hát rất “bé” và việc luôn chọn hát ở tông cao. Nhưng trái ngược với nhiều nhận định chủ quan, đặc điểm trong vocals hay trong phong cách hát hoàn toàn không phải để kêu gọi thế giới phải hiểu Grimes dễ thương thế nào. Cô không muốn trở thành một sex symbol, hay một meme để mọi người ca tụng kiểu “ôi eo ôi, em ấy dễ thương, giọng cuteo vãi”. “Genesis” và “Oblivion“, mặc cho chúng nghe thế nào, sự thể hiện nữ tính cứng rắn của Claire trong một thế giới không thật sự dành đủ tôn trọng cho những nghệ sĩ nữ với tính cách nữ tính. Với “Oblivion“, đó là vượt qua những nỗi đau bám lại sau một tình yêu tan vỡ trong bạo lực (rất bất ngờ khi đọc câu chuyện đằng sau bài này). Với “Genesis“, đó là vận tải cho Grimes trở thành nữ anh hùng trong thế giới của mình. Bỏ qua những chi tiết trong chuyện đằng sau đằng trước, “Genesis” vẫn xứng đáng với #1 vì đây là một trong những bản nhạc pop lạ lùng nhất lẫn quen thuộc nhất mình nghe trong mấy năm qua. Sử dụng ảnh hưởng từ K-PopMariah Carey trong vocals, Grimes kết cấu đoạn synth bass catchy nhất của năm (bắt đầu ngay phần intro của bài) và cứ thế, trái tim của mình hoàn toàn bị chinh phục

 


3 Responses to “VNNTB’s Favorite Tracks of 2012: 10-1”


  1. 1 thai92hp
    December 20, 2012 at 8:14 pm

    Thật bất ngờ với bài Rơi (vì lọt top 20) và bài này, không ngờ lại có thể No.1 :x

    Còn cái đoạn đầu thì mình lại nghe thấy:
    My heart I never be, I never see, I never know
    Oh heart, and then it falls, and then I fall, and then I know.

  2. 2 tokyo.cocoon
    December 24, 2012 at 5:23 pm

    Nếu Grimes đặt mình ở vị trí một người ngoài hành tinh thì Genesis chính là lần đầu tiên cô rung động trước tình yêu.

    my heart I never be I never see I never know,
    oh heart and then it falls, and then I fall, and then I know.

    Không sến tẹo nào, quá hay quá hay. T_T


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

%d bloggers like this: