26
Sep
15

Album Review: Disclosure – Caracal

disclosure-caracal

By Pauler

Trường hợp của DisclosureCaracal không khác mấy trường hợp của Hercules & Love AffairBlue Songs vào năm 2011. Sau khi Hercules & Love Affair đưa nu-disco trở thành xu hướng và đồng thời biến Antony Hegarty thành một diva nhạc dance “chá lửa” trong single kinh điển “Blind“, sự kỳ vọng cho album kế tiếp Blue Songs lớn hơn bao giờ hết. Với Disclosure, thành công nổi trội của Settle trong mặt thương mại lẫn việc trở thành đứa con cưng của hàng loạt nhà phê bình hiển nhiên đẩy cao kỳ vọng cho Caracal lên đến tận mây. Thêm nữa, bên cạnh việc mở đường vào Top 40 cho những nghệ sĩ dung hợp nhạc Pop và UK Electronic (Duke Dumont, Rudimental), Disclosure còn đưa những Ed McFarlane, Hannah Reid và đặc biệt là Sam Smith trở thành một ngôi sao toàn cầu thực thụ.

Lí do Hercules & Love Affair được nhắc đến phía trên là do khi Blue Songs ra mắt, hàng loạt fan cũng như các nhà phê bình thể hiện sự thất vọng tràn trề bởi thủ lĩnh Andy Butler gần như quên hẳn cái “năng lượng” ma mị đầy thu hút của album đầu tay. Thêm nữa, việc thay đổi vocalist ở mỗi album của Butler càng làm cho Blue Songs trở thành một ván bài tuy mạo hiểm nhưng không thành công. Những ca sĩ như Aerea NegrotShaun Wright hoàn toàn mờ nhạt và đơn giản, họ không thể thay thế được những khoảng trống mà Antony Hegarty, cũng như Nomi Ruiz đã để lại trước đó. Và điều xảy ra với Blue Songs cũng chính là điều đã xảy ra với Caracal.

Omen

Settle, Disclosure đã tạo ra một công thức hoàn hảo cho chính bản thân họ: những bản nhạc pop với phần giai điệu mạnh mẽ đáng nhớ, phần production dung hợp nhịp 4/4 của nhạc house với đặc trưng hi-hat và phần drum của nhạc 2-step, cách dùng sample thông minh và quan trọng, 2 anh em nhà Lawrence biết cách viết một đoạn hook như thế nào. Ở Caracal, Disclosure giảm “tốc độ” lại hẳn. Không còn những bản banger “When A Fire Starts to Burn” hay “You & Me” mà trái lại, họ cấu trúc phần lớn các bài hát ở đây ở tầm tempo 100 bpm (beats per minute), và sự hiện diện của những track với tempo chậm rãi của xu hướng Post R&B cũng nhiều hơn.

Như các EPs và album trước đó, Caracal vẫn được sản xuất và thực hiện rất chỉn chu, nhưng tất cả mọi “công thức” ở đây đều là những gì Disclosure đã dùng hết trong Settle. Xuyên suốt album, vẫn là tiếng synth ấy, vẫn là kiểu drum ấy, thậm chí đến cả việc xây dựng một bài hát, họ vẫn dùng lại hiệu ứng fade out với reverb giữa đoạn verse và chorus ở “Latch” một thời. Cộng với cảm giác “thân quen” cứ trải dài, Disclosure còn một lỗi rất nặng ở việc nhầm tưởng “chậm rãi” cho “trưởng thành”. Việc thay đổi tempo chung của toàn album làm cho trải nghiệm nghe Caracal như việc đứng trong một góc của club và đơn giản chỉ nghiêng đầu qua nghiêng đầu lại: nó thiếu đi cái cảm giác hồi hộp, kích thích lẫn cái năng lượng tràn trề của album trước.

Holding on

Lấy ví dụ, “Omen” với sự góp mặt của Sam Smith nghe như một “Latch” được ngâm trong nước lã. Không những bài hát nghe cực kỳ dễ đoán trong cách nó sẽ tiến triển thế nào, Smith cũng chỉ mang lại một phần trình diễn như thể anh đang lẩm bẩm “Latch” phần 2. Hoặc ở “Magnets” với Lorde, cách cả 2 bên cùng nhau rề rà thật sự đi ngược lại mong muốn biến Caracal trở thành một album mang tính “sophisticated”. Chưa kể việc chia sẻ phần sáng tác cho tất cả những ca sĩ góp mặt trong album cũng đôi khi mang lại những kết quả khá là đáng trợn mắt: đơn cử  câu “Pretty girls don’t know the things that I know” đậm chất của Lorde.

Như Settle đã tạo cơ hội để Disclosure giới thiệu với người nghe những nghệ sĩ triển vọng như London Grammar (“Help Me Lose My Mind“) và Eliza Doolittle (“You & Me“), Caracal là bàn đạp để 2 anh em Lawrence tiếp tục đưa những nghệ sĩ ít tên tuổi đến với nhiều người nghe hơn: Lion Babe, Kwabs, và Jourdan Rakei. Tiếc thay, những track như “Hourglass“, “Willing & Able” hay “Masterpiece” đều là bài cũ soạn lại; cứng nhắc trong mặt sonic, an toàn trong cách xử lý, giai điệu nhạt nhòa và buồn hơn hết, không một khoảnh khắc nào tạo nên một đoạn hook đáng nhớ. Thậm chí, giữa 2 track theo hướng R&B do KwabsRakei thể hiện, Disclosure hoàn toàn có thể đổi chỗ cho 2 anh này và kết quả vẫn như vậy.

lion babe

Khi Disclosure đi xa khỏi những công thức “đá mòn” trong phần production cũng như trong cách họ lựa chọn vocalist, kết quả khác hẳn. Ở “Holding On“, nghệ sĩ jazz gạo cội Gregory Porter hoàn toàn làm lu mờ sự hiện diện của Sam SmithThe Weeknd trước đó. Ông mang đến cái năng lượng, cái “lửa” mà Caracal rất cần và trên hết, cách mà ông trình bày “Holding On” cảm giác nó rất dễ dàng và thoải mái – một điều Disclosure lẽ ra nên học thay vì quá cố để làm cho bản thân nghe “trưởng thành”. Tương tự với Nao trong “Superego“. Cách cô khuyên đối phương từ bỏ cái tôi quá lớn của anh qua một dòng đơn giản như “It’s bigger than you/It’s bigger than me” tạo nên sự lôi cuốn lẫn hồi hộp của một mối tình chớm nở. Cái khao khát ấy cũng là một điểm Disclosure có thể khai thác nhiều hơn khi họ làm R&B, thay vì gần như lúc nào cũng bám sát những chủ đề rất an toàn về tình yêu thông qua những vocalists thiếu màu sắc.

kwabs

Howard Lawrence từng tâm sự với tạp chí LA Times rằng anh nghĩ nhiều người sẽ rất ngạc nhiên vì album này. Anh nói đúng. Mình ngạc nhiên vì không nghĩ một bộ đôi từng có thể đi từ EP Tenderly/Flow, qua đến tạo ra những track rất đáng nhớ “What’s In Your Head?“/”Control” rồi làm nên một Settle hoàn chỉnh lại có thể đến cuối làm ra một album như Caracal. Với thành công thương mại hiện tại, Disclosure vẫn còn cơ hội để chứng minh bản thân ở những lần sau khi họ có thể nhận ra rằng mình cần phải mở rộng DNA trong âm nhạc cũng như hoặc làm mới hoặc bỏ hẳn những gì họ từng tạo ra. Và bộ đôi này cần phải làm điều đó ngay để tránh trở thành một Hercules & Love Affair thứ 2 – những người chưa bao giờ đạt được thành công thương mại và bây giờ hoàn toàn bị quên lãng.

caracal

5.0


5 Responses to “Album Review: Disclosure – Caracal”


  1. September 27, 2015 at 10:43 pm

    Bị nhớ mấy bài viết thế này của Pauler

  2. November 29, 2015 at 11:14 pm

    cái gì thương mại quá thì hay bị mất chất :)

  3. 4 silverrose1864
    July 19, 2016 at 4:08 pm

    Pauler nghe EP mới của Disclosure chưa ạ? Em thấy Moog For Love dù có 3 bài nhưng bài nào cũng chất cả

    • 5 Pauler
      July 19, 2016 at 4:12 pm

      Anh có nghe rồi, nhưng không thấy hay hoặc sáng tạo cho lắm. Rất là an toàn. Bài số 2 thì lãng phí phần vocal sample của huyền thoại Al Green: cách dùng quá đơn điệu. Bài số 3 sample bài vocal jazz yêu thích nhất của anh “Moody’s Mood For Love” (cảm hứng cho cái tên Moog For Love) chắc là bài anh thích nhất, mặc dù cũng ko đặc sắc mấy.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

%d bloggers like this: