08
May
16

Album Review: Beyoncé – LEMONADE

Lemonade

Album cùng tên của Beyoncé ra mắt vào cuối 2013 là một luận chứng xuất sắc về chủ đề feminism khi đồng loạt khai thác khía cạnh sexuality của phái nữ và liên tục bảo vệ định kiến ấy từ bài này qua bài khác. Ở 2016, Bee thực hiện một visual album tương tự, bao gồm concept rõ ràng lẫn đầy đủ video cho từng bài. Nhưng trong khi Beyoncé dừng lại là một sản phẩm tổng hợp nhiều bài hát (và nhiều video) xuất sắc về cùng một chủ đề, Lemonade đi thêm một bước xa hơn bằng việc sắp xếp các bài theo thứ tự của một câu chuyện đáng kể  với đủ hỉ nộ ái ố từ trải nghiệm của một người phụ nữ da màu khi sự chung thủy trong hôn nhân bị phá vỡ hoàn toàn. Từ Beyoncé, chỉ “Heaven” và “Blue”  mới thật sự cho công chúng thấy được đằng sau một persona hoàn hảo từ sự nghiệp, gia đình và địa vị, cô cũng có những câu chuyện muốn nói như nhiều người phụ nữ từng làm mẹ, cũng những cái đau khi biết tin mình sảy thai và cũng hạnh phúc đến nghẹn lời với đứa con đầu lòng. Với Lemonade, bất kể là sản phẩm của một chiến thuật marketing hiệu quả hay nó mang tính tự sự chân thành, đây vẫn là một album không những thuyết phục khi cho thấy Beyoncé ở những khoảnh khắc “thật” nhất trong đời tư mà nó còn là cơ hội để cô tiếp tục mở rộng phạm vi thử nghiệm trong âm nhạc ở một mức độ mà hiện tại không ai trong mainstream theo kịp.

Bee 9

Đi kèm một danh sách credit tiếng Anh dài đến 3105 chữ, Lemonade có sự góp mặt của hàng loạt nghệ sĩ, producer từ mới đến cũ, từ mainstream cho đến những người “âm thầm” nhất trong giới indie. Chưa hết, phần sample cho Lemonade cũng dao động từ nhiều bài ở các thập niên âm nhạc khác nhau và sự phong phú đa dạng trong lựa chọn sample càng cho thấy Beyoncé trong vai trò của một executive producer mang tính chất mấu chốt như thế nào.Lấy ví dụ như “Hold Up“, 1 trong những bài với phần credit dài nhất, nó mượn instrumentation từ “Can’t Get Used To Loving You” của Andy Williams (một hit nhạc soul vào 1963), sau đó phần giai điệu được xây dựng lần lượt qua tay của Father John Misty, Ezra Koenig (Vampire Weekend), MNEK và một số lyrics được truyền cảm hứng từ “Turn My Swag On” của Souja Boys (câu đầu trong đoạn bridge) cho đến bản indie rock bất hủ “Maps” của Yeah Yeah Yeahs (câu hook chính “Hold up, they don’t love me like I love you“). Ở một góc độ nhất định, việc “thừa nhận” trước những câu lyrics kia được truyền cảm hứng từ đâu là một bước đề phòng quá kỹ của đội ngũ phía sau Beyoncé nhằm tránh những kiện tụng như kiểu giữa gia đình của Marvin GayeRobin Thickie một thời. Ở góc độ khác, “Hold Up” là một sáng tác trôi chảy và sắc sảo đến bất ngờ khi mà mỗi phong cách của từng cộng tác đều hiện rõ (dancehall từ MNEK, cách dùng lyrics của Father John Misty và rhythm đặc trưng của Koenig) nhưng nó lại không nghe như một nồi lẩu thập cẩm “khó nuốt”.

Bee 8

Một ví dụ khác cho việc kết hợp thành công các sample khác nhau nằm ở “6 Inch” – bản R&B “tăm tối” trong mặt sonic nhưng lại là một trong những bài dễ “cảm” hơn trong cả album. Sample từ bản cover “Walk On By” của Isaac Hayes vào 1969 (bản gốc của Dionne Warwick) và mượn dòng lyric “To seem like I care about material things” từ “My Girls” của Animal Collective, “6 Inch” khuyến khích nữ giới luôn tự hào về việc tự mình kiếm ra tiền và họ nên thể hiện điều đó thay vì sợ nam giới cảm thấy “lép vế” nếu họ biết. Nhưng trước khi mang lại dấu ấn của “Independent Woman (Part 1)” ở “6 Inch“, Beyoncé  khai thác cái căm phẫn và giận đến tê người qua những cách khác nhau trong 2 tiêu biểu của Lemonade: “Don’t Hurt Yourself” và “Sorry“. Tuy không phải là bài đầu tiên giới thiệu người nghe đến một Beyoncé mất hút trong cơn giận, “Don’t Hurt Yourself” làm cho “Ring The Alarm” nghe như nó được thực hiện bởi Taylor Swift với một sự nâng cấp rõ ràng trong phần sáng tác và phối khí. Trong khi phần guitar của Jack White đùng đùng trên nền drum sample từ “When The Levee Breaks” của Led ZeppelinBee liên tục chỉ thẳng mặt người chồng phản bội với những câu hát mãnh liệt như thể muốn nổ tung cả phần filter “WHO THE FUCK DO YOU THINK ARE YOU?” hay đến những câu ngập tràn trong cả phẫn nộ lẫn xúc phạm “You ain’t married to an average bitch boy!“. Ở “Sorry“, Bee mượn lại nội dung  của “Irreplaceable” ngày nào và từng câu hát, cô thể hiện trong cái khinh bỉ đến bất cần “Let’s have a toast to the good life/Suicide before you see this tear fall down my eyes“. Nhưng tất cả đều không cay độc bằng ngay đoạn cuối bài, khi phần production giảm dần tempo và đi vào một groove bồng bềnh để cuối cùng cô kết thúc bằng lời châm biếm cay độc về người đàn bà thứ 3 “You betta call Becky* with the good hair

*Becky: là một từ lóng được bắt nguồn từ bài “Baby Got Back” của Sir Mix’A’Lot, dùng để nói đến một người phụ nữ da trắng nhưng không được thông minh cho lắm (khá tương tự với từ “vàng hoe”).

Bee 7

Tuy vẫn nghe kết nối với mạch chảy của các bài còn lại, phần giữa của Lemonade trong 3 bài tiếp theo dễ dàng là phần yếu nhất cả album. Ở “Daddy Lessons“, với phần hòa âm bao gồm tiếng kèn đồng (brass), harmonica, tiếng “Yee-haw” mở màn cũng như những đề cập về rượu Whiskey, đĩa than vinyl, súng trường và Second Amendment (quyền được sở hữu và sử dụng vũ khí trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Hoa Kỳ), Beyoncé thử tay mình với nhạc country – một dòng nhạc bắt nguồn từ những bang phía Nam của Mỹ từ những năm 1920s (bao gồm cả Texas – nơi cô sinh ra và lớn lên). Gây ấn tượng bởi yếu tố bất ngờ nhiều hơn là ở yếu tố âm nhạc, “Daddy Lessons” đứng vững trong Lemonade ở mặt nội dung nhưng lại nghe rất lệch tông ở mặt âm nhạc, đặc biệt khi phần kể chuyện không được khai thác một cách trơn tru ở mặt lyricism. Đến bản electronic R&B “Love Drought“, Bee gặp phải một vấn đề trái ngược. Đại diện cho chương Reformation, “Love Drought” tiếp tục đưa thêm những cái nhìn chân thật về hôn nhân khi cả hai bên đặt lỗi lầm qua một bên và đi đến một thỏa hiệp nhất định (But nine times outta ten, I know you’re trying/So I’m trying to be fair/And you’re trying to be there and to care). Nhưng, với mỗi dòng lyric bộc trực và thuyết phục qua phần vocals (thậm chí ở cả đoạn chorus rất sến), cách BeeMike Dean chọn hòa âm lại nghe khô cứng và thiếu sự phối hợp chu toàn để phần nội dung thật sự đi đến cái đích họ đề ra. Để rồi, điểm yếu này lấn sang cả bản piano ballad “Sandcastles“, một bài soul xúc tích kể về sự chấp nhận hiện thực cũng như tượng trưng cho việc cánh cừa của chương Forgiveness bắt đầu. Thậm chí khi đây là một trong những màn vocals hay nhất trong sự nghiệp, phần phối khí ủy mị làm “Sandcastles” nghe như một B-side của Adele vì nó không có được cách chia cấu trúc tinh tế và “làm mới” ballad như những gì “Heaven” từng làm.

Bee 3

Ở 4 bài cuối cùng, Lemonade trở về những đỉnh cao ngất ngưởng trong mặt chất lượng của nửa đầu. “Forward” với James Blake nghe như một bản interlude thay vì là một bài hát trọn vẹn. Vẫn với kiểu “điện tử hóa” phần vocals và cách chơi piano rải rác xen lẫn những khoảng trống, Blake trở thành một tương phản hoàn hảo trong mặt hòa âm so với những gì Jack White làm trước đó. Mặc dù “Forward” kết thúc đột ngột, nó trở thành một bàn đẩy tự nhiên cho “Freedom (feat. Kendrick Lamar)” sau đó. Như “Formation“, “Freedom” lả bài mang tính chất “chính trị” hơn cả, thể hiện rõ nhất khi Beyoncé nhắc đến phong trào Black Lives Matter bằng việc mời phụ huynh của Trayvon Martin, Michael Brown và Eric Garner xuất hiện trong Lemonade với ảnh của con mình. Nhưng nếu đơn thuần ám chỉ “Freedom” là sự ăn ăn theo thời sự nổi bật của năm thì rất không công bằng khi bản thân nó là cả một trải nghiệm sâu sắc về giá trị của người phụ nữ trong xã hội cũng như sự tồn tại của phân biệt chủng tộc khi cảnh sát dùng vũ lực với người da màu (Six headlights wavin’ in my direction/Five-O askin’ me what’s in my possession). Thông qua phần bass tuyệt vời của Marcus Miller cũng như phần production gợi tả rất chính xác về những thời kỳ đấu tranh mãnh liệt của African-American, ở một mặt, “Freedom” là bậc đài để Kendrick tiếp nối chủ đề về  social justice anh từng đề cập trong “Alright“. Mặt khác, bài hát là một bản tuyên ngôn kiên định của Bee dành cho chính những người phụ nữ được chia những ván bài cháy tàn từ xã hội và cô hy vọng mình có thể truyền cảm hứng để họ tìm thấy tự do cho chính mình.

Bee 4

Cuối “Freedom“, Beyoncé sử dụng đoạn ghi âm từ một bữa tiệc sinh nhật lần thứ 90 từ bà nội của Jay-Z, và trong đó, bà nhắc lại một trong những câu thành ngữ trong văn hóa nước Mỹ “I had my ups and downs, but I always found the inner strength to pull myself up. I was served lemons, but I made lemonade“. Câu nói ấy trở thành nguồn cảm hứng chính cho tựa đề album, cũng như trở thành phần outro để phần kể chuyện của Beyoncé đi vào chương Redemption với “All Night” – bài hát kết thúc bộ phim Lemonade bằng cách cho thấy sau bao nhiêu trắc trở và thăng trầm của 10 chương trước, cuộc hôn nhân của cả 2 dần dần trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết (Our love was stronger than your pride/Beyond your darkness, I’m your light). Và để thể hiện luôn sự tôn trọng đối với nền văn hóa ở nơi Bee lớn lên, DiploHenry Allen sample tiếng kèn đồng từ “SpottieOttieDopaliscious” của Outkast – một trong những bài kinh điển nhất của dòng Southern Hip-hop.

Bee 5

Sự lựa chọn Formation để làm bài kết thúc album là một bất ngờ bởi khi nghe Lemonade sau khi đọc những thông tin về cảm hứng cũng như nội dung nói chung, thật khó để tưởng tượng một bài như vậy sẽ phù hợp. Tuy nhiên, mặc cho “Formation“phù hợp với album Beyoncé hơn trong mặt sonic, nó là một phần hợp lý trong cách khám phá và ca ngợi những đặc trưng của người da màu cũng như ám chỉ đến Black Panther khi tổ chức này hoạt động để  phản đối về việc lạm dụng vũ lực cũng như những hành động thô bạo của cảnh sát đối với người dân da màu vào cuối những năm 60’s/đầu 70’s.

Bee 6

So với BeyoncéLemonade vượt trội hơn trong nhiều khía cạnh và lép vế hơn ở một số điểm. Nếu xét trên phương diện về sự đồng đều trong mặt chất lượng giữa các bài hát, Beyoncé vẫn là một album tốt hơn. Tuy nhiên, Lemonade lại là album chặt chẽ hơn trong mặt sequencing, liên kết tất cả mọi thứ từ chủ đề, cách thực hiện, sáng tác, phối khí mặc cho có bao nhiêu người tham gia hay bao nhiêu sample được dùng. Bên cạnh việc chịu thử sức ở những dòng nhạc mà Beyoncé chưa bao giờ đụng vào trước đây (garage rock, country), Lemonade còn muốn mang tính tự sự nhưng cũng muốn có một cái nhìn thẳng thắn về mặt chính trị sau hàng loạt bạo hành đã xảy ra với người da màu. Và với những tham vọng rất lớn sẽ dẫn đến những cái “hố” sâu hơn để trượt chân vào. Nhưng với Lemonade, Beyoncé né gần như tất cả những rủi ro có thể xảy ra và ngay trong 2016, 13 năm kể từ album đầu tay, cô vẫn không ngừng thách thức bản thân để đi cao hơn những cái “đỉnh” do chính mình làm trước đó.

Bee 10

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

8.8/10

 

 


0 Responses to “Album Review: Beyoncé – LEMONADE”



  1. Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------

%d bloggers like this: