Archive for the 'Best Tracks' Category



26
Sep
18

Review the Hits: BoA – My Name (2004)

BoA - My Name.jpg

BoA

My Name

My Name

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Lời bởi Kenzie

Phối khí bởi (???)

Bước ngoặt mà “My Name” làm cho BoA cũng giống như những gì “I’m A Slave 4 U” từng làm cho Britney Spears: một thay đổi triệt để để bước qua hình ảnh trưởng thành, sexy hơn. Tuy vậy, bài hát mình nghĩ đến nhiều nhất khi nghe “My Name” lại là bản hit được ra mắt một năm trước đó của Britney: “Toxic” – điển hình trong cách dùng tiếng synth string xuyên suốt bài. Bên cạnh những khúc string đứt đoạn này, “My Name” còn sử dụng một vài yếu tố tiêu biểu của dung hợp R&B/Pop rất thịnh hành vào đầu thập niên 2000’s: đoạn riff được chơi bằng guitar mộc, tiếng kick-drum đơn giản và một cấu trúc thẳng đuột, không áp dụng các thay đổi tiết tấu và không chia phân đoạn rườm rà. Mặc dù cả Britney SpearsBoA đều áp dụng cách xây dựng cao trào như nhạc nền của những bộ phim hành động, “Toxic” lại chuộng những giai điệu đầy chất “tán tỉnh” và phần nào “sensual” trong phần chorus. Trong khi đó, “My Name” thì lại khai thác cảm giác căng thẳng, đầy “nguy hiểm” của dòng nhạc; nó xây dựng chorus gần như theo phong cách call-and-response bằng việc mở đầu bằng vài âm chậm và đáp trả với một đoạn hát nhanh hơn. Với BoA, một nghệ sĩ debut từ rất sớm, cô có thừa tự tin lẫn thần thái để nắm gọn “My Name” vào lòng bàn tay, vừa nắm giữ phần production trong vai trò James Bond và vừa thu hút chú ý ở người nghe một cách tuyệt đối. Với “My Name“, một bài hát đã ra mắt cách đây khoảng 14 năm, phần production của nó vẫn còn là một trong những production kinh điển nhất của K-Pop: tiếng guitar riff ấn tượng mở đầu, đoạn breakdown qua synth string và những dải guitar vang lên như chuông báo cháy ở chorus. Mà cũng đúng, một khi “My Name” đã lên thì sàn nhảy nào mà không bốc lửa cho được.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

9

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

 

 

Advertisements
25
Sep
18

Review the Hits: Red Velvet – Red Flavor (2017)

Red Velvet - Red Flavor.jpg

Red Velvet

Red Flavor

The Red Summer EP

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác và phối khí bởi Caesar & Loui (Daniel Caesar & Ludwig Lindell)

Lời bởi Kenzie & Yeri

Bộ đôi producer Caesar & Loui có 2 bài hát nổi bật trong năm 2017: “Singing in the Rain” cho JinSoul (LOONA) và “Red Flavor“. Không những “Red Flavor” là bài hát vượt trội mà nó cũng là single xuất sắc nhất trong sự nghiệp của nhóm. Red Velvet không hề thiếu các single sáng tạo; bạn có thể thấy điều này trong phần production nổ tưng bừng như pháo của “Dumb Dumb” hay cách dẫn dắt nhạc jazz trong đoạn bridge ở “Rookie“. Nhưng kể cả 2 bài hát sừng sộ này cũng không đọ nổi với phần percussion linh hoạt và sáng tạo không ngờ của “Red Flavor“. Trong một năm đầy rẫy các production với phần drum hoặc percussion chịu ảnh hưởng từ Future Bass, EDM, Disco, Trap thì Caesar & Loui chọn một hướng đi khác: họ lựa các âm thanh “mộc” hơn để làm nền: tiếng vỗ tay, congo (?) và dĩ nhiên không thể không nói đến phần sample giọng nam của Ludwig được thu bằng iPhone và xử lý qua phần mềm sản xuất Logic. Các yếu tố này dễ dàng nổi bật bởi chúng vẫn nghe “organic” hơn các âm thanh điện tử hay bắt gặp và cách dàn dựng ở đây cũng đứt quãng, rải rác theo như đúng cách di chuyển tempo liên tục của bài.

Việc thay đổi tempo bất chợt qua mỗi phân đoạn có thể được coi như là một nét đặc trưng của K-Pop khi các producer làm nhạc cho thị trường này tha hồ thử nghiệm các ý tưởng “điên rồ” mà họ không thể dùng cho thị trường US hoặc UK.  Nhưng điều tách biệt trường hợp của “Red Flavor” so với các bài khác nằm ở cách xử lý bậc thầy của Caesar & Loui cũng như phần harmony tuyệt vời của Red Velvet. Lấy ví dụ ở đoạn pre-chorus 0:32, Caesar & Loui làm chậm lại tiết tấu và họ áp dụng những dải synth bóng loáng cùng với phần bè đệm để đưa bài hát vào một thế “du dương” hơn. Từ một phân đoạn mềm mại đó, “Red Flavor” tự lấy đà và lao về phần chorus một cách hết sức táo bạo. Với bất kỳ thay đổi lớn nào trong mặt tiết tấu, Caesar & LouiRed Velvet đều có cách làm nhẹ đi các phân vùng để đảm bảo bài hát không nghe đứt đoạn. Và đến khi Wendy kết bài bằng “What I like the most is you in the summer“, cô cũng đồng thời khẳng định “Red Flavor” đã vượt hẳn các bức tường âm nhạc cao vời vợi mà chính Red Velvet đã tự xây, tự thách thức chính mình trước đó qua hàng loạt single xuất sắc khác nhau.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

9

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

 

23
Sep
18

Best of 2018: Vũ. – Hành Tinh Song Song

39973366_2125601651036650_3006931738078216192_o

Vũ.

Hành Tinh Song Song

HT/SS

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác và trình bày bởi Vũ

Phối khí, mix & master bởi André Ngo

Như trường hợp của Trương Thảo Nhi (“Tự Sự Tuổi 25“) và Văn Mai Hương (“Ngày Thứ Tư Của Tháng Ba“), André Ngo là một “đạo diễn” âm nhạc hiếm hoi tại có khả năng giúp những nghệ sĩ cộng tác với anh thể hiện tốt hơn các điểm mạnh của mình. Văn Mai Hương chưa bao giờ hát truyền cảm hay nồng nàn hơn như trong single “Ngày Thứ Tư Của Tháng Ba“, và nếu bộ ba Hương / André / Phạm Toàn Thắng thực hiện một album theo hướng R&B/Neo-Soul, mình sẽ không ngần ngại mua liền 5 bản để ủng hộ. Ở trường hợp của “Hành Tinh Song Song“, phần sáng tác lẫn trình bày của Vũ. đều là những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp. Anh đi xa dần những giai điệu êm ái, dễ đoán của dòng Adult Contemporary mà khán giả hay lầm tưởng là “Indie”. Mặt khác, cách anh đưa đẩy giai điệu bài hát để mình có nhiều cơ hội thể hiện phần vocals cũng là một bước đi đúng bởi sự xuất hiện của quá nhiều nghệ sĩ vừa chơi guitar, vừa “hát” thì thầm đã biến thành cliché trong nhạc Việt. Nhưng kể cả ở những tiến bộ dễ thấy đó, phần phối khí và dàn dựng của André Ngo mới thật sự là ngôi sao của bài. Từ phần soạn string mang chất “nhạc phim” cho đến cách lột tả các cảm xúc phức hợp của sự cô đơn và cách ly, “Hành Tinh Song Song” là một ví dụ tiêu biểu cho việc một sáng tác có thể nổi bật hơn thế nào khi vào tay của một producer có cả “talent” lẫn “taste“. “Hành Tinh Song Song” là một bước đi hợp lý cho . để anh có thể thoát ra khỏi cái bóng singer-songwriter hạn hẹp ngày nào và nó đồng thời cũng là một cơ hội để thêm nhiều fan biết đến “viên ngọc” mang tên André Ngo.

 

16
Sep
18

Best of 2018: Twice – What is Love

TWICE – What is Love

Twice

What is Love

What is Love EP

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi JYP, phối khí bởi Lee Woo-min “collapsedone”

Twice không phải là nhóm nhạc bạn tìm đến nếu như bạn muốn production đầy sáng tạo hoặc cấu trúc bất thường. Thậm chí ở “Likey“, sự phức tạp của phần production chỉ diễn ra qua việc Rado (1/2 của Black Eyed Pliseung) thay đổi tempo ở khúc rap và 90% bài hát vẫn xoay quanh motif những cụm từ dễ nghe, dễ thuộc và bắt kịp với văn hóa giới trẻ. Ở “What Is Love“, JYP và collapsedone đưa Twice về hướng đi khá truyền thống của nhạc Pop – không đi hẳn vào “tối giản” với vài nhạc cụ như nhạc Ballad và cũng không thử nghiệm quá nhiều với các âm thanh giả lập. Có chăng, điều ấn tượng nhất của phần production nằm ở cách dùng synth bass ở verse 2 và sau đó verse 3 (phần rap của Dahyun). Còn lại, “What Is Love” dựa hoàn toàn vào 2 điều để nổi bật: vocals và giai điệu. Về mặt vocals, collapsedone xử lý quá tay một số đoạn vocals, dẫn đến phần hát của các thành viên gần như không có tách biệt trong âm sắc (timbre). Nhưng về mặt giai điệu chính, “What Is Love” thật sự hay. Từ phần chorus được làm theo phong cách call-and-response (hiểu nôm na là người-gọi-người-đáp – một yếu tố phổ biến của nhạc Motown vào thập niên ’60), cách cho giai điệu hạ dần xuống qua câu “I wanna know, know, know, know” rồi trở ngược lên với câu hook “What is love!” đến phần làm nên bài hát này: cách bẻ đôi bridge. Từ 2:27 đến 2:36, cách phát triển giai điệu này có thể được dùng làm nguyên đoạn bridge và sau đó bài hát qua đến chorus cuối thì vẫn được. Nhưng JYPcollapsedone không hề làm vậy. Họ giảm bớt các phần instrumentation, giảm tempo bài hát và cho 2 ca sĩ chính Nayeon / Jihyo thực hiện đoạn bridge thứ hai – cao trào thực sự của bài.

Như đã đề cập, mình vẫn có một số phê bình cho bài hát, đơn cử trong mặt sản xuất phần vocals nhưng điều này về dài không hẳn là lỗi trầm trọng khi “What Is Love” có phần chorus cũng như cách dẫn dắt bridge tuyệt vời như vậy. Nhiều lúc K-Pop là một nền âm nhạc dựa trên việc “đóng chai” và “bán” cho người nghe những fantasy mà họ không thể tìm thấy ở những kênh khác; như việc BlackPink chuyên “bán” hình ảnh của những cô gái tự tin, cá tính, cực kỳ “ngầu” thì Twice lại “bán” những vấn vương, tơ tưởng của tình yêu đầu. Và trong phân khúc chuyên đi thuyết phục người nghe về những gì lãng mạn, mơ mộng nhất của tình yêu tuổi trẻ, Twice đã làm hoàn chỉnh kế hoạch tiếp thị của mình rồi.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

8

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

16
Sep
18

Best of 2018: Red Velvet – Bad Boy

Red Velvet - Bad Boy

Red Velvet

Bad Boy

The Perfect Red Velvet – The 2nd Album Repackage

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi JQ và Moon Hee-yeon

Phối khí bởi The Stereotypes, Maxx Song, Whitney Phillips, Yoo Young-jin

Là một bản R&B với các yếu tố của Hip-Hop đương đại trong phần drum / percussion, “Bad Boy” là dung hợp hoàn hảo giữa 2 khía cạnh của Red Velvet: mặt ngạo nghễ, rung động đất trời trong production của những “Dumb Dumb” hay “Rookie” và mặt quyến rũ, gợi cảm trong giai điệu của “Automatic“. Về production, “Bad Boy” không có nhiều biến đổi như các single trước; các thay đổi trong tempo hoặc chuyện nhảy qua một dòng nhạc khác được giữ ở mức tối thiểu. Phần chord chính được thiết lập bởi Sylenth1, đoạn drum loop với các tiếng hi-hat dính liền và phần bassline từ Trillion là một số yếu tố được lập lại xuyên suốt để làm cái khung chính cho bài. Nhưng vì phần harmony, giai điệu vocals cũng như các đoạn bè của Red Velvet khá dày đặc nên hiếm khi ta nghe ra được các yếu tố “ăn tiền” khác của bài hát: đơn cử đoạn hook qua tiếng piano đơn lẻ, tiếng người đàn ông reo hò, tiếng còi xe và đoạn synth pad tuyệt vời làm nền nâng đỡ 3 yếu tố cơ bản nói trên.

Production của “Bad Boy” hay một phần vì The Stereotypes đã làm được một cái khung rất chuẩn cho dạng tempo nửa “red” nửa “velvet” này. Mặt khác, các producer còn lại đã thêm thắt rất nhiều chi tiết sonic “lém lỉnh” để thêm phần thú vị mà không phải đụng chạm gì vào phần nhạc chính. Nhưng mặc dù vậy, khi nghe chỉ phần instrumental của “Bad Boy“, bạn sẽ thấy được phần giai điệu vocals từ Red Velvet đóng vai trò mấu chốt thế nào trong thành công của bài. Bởi vì “Bad Boy” không có những có những phần tạo ấn tượng mạnh như phần percussion sáng tạo nổi da gà của “Red Flavor” hay cách dùng trumpet như “Dumb Dumb“, cách xây dựng giai điệu chính, những phần hook trong vocals, các đoạn hòa âm, bè và cách nhập vai tuyệt vời của Red Velvet nâng tầm bài hát này lên rất nhiều. Và đến khi phần bridge được chuyển về half-time (giảm tempo xuống còn khoảng 1 nửa) và một phần chord khác qua tiếng synth pad được chêm vào, Red Velvet hoàn toàn nắm chắc trong tay bản R&B/Pop ấn tượng và sexy nhất của năm.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

8.5

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

 

10
Sep
18

Single Review: BLACKPINK – 뚜두뚜두 (DDU-DU DDU-DU)

BlackPink - DDD.jpg

BLACKPINK

뚜두뚜두 (DDU-DU DDU-DU)

SQUARE UP

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi TEDDY, 24, R.Tee, Bekuk BOOM

Phối khí bởi TEDDY, 24, R.Tee

뚜두뚜두 (DDU-DU DDU-DU)” là một ví dụ điển hình của việc làm nhạc chỉ để tâm vào “style” mà bỏ mặc “substance”. Ở “As If It’s Your Last” trước đó,  BLACKPINKTeddy cũng phần nào đi vào cái bẫy này nhưng họ cân bằng lại qua phần chorus rất Pop và không để bài hát “tự sướng” quá nhiều với mặt hook. Một khi mất đi yếu tố Pop, công thức này mất hẳn cân bằng và kết quả là một bản Trap nghe rất lỗi thời và rất uổng như “뚜두뚜두 (DDU-DU DDU-DU)“. Ngoại trừ phần rap máu lửa của Jennie ở verse thứ 2, các đoạn còn lại đều không có sự kết nối rõ ràng. Cách dẫn dắt từ phần rap qua pre-chorus bằng phần belting là một lựa chọn dễ đoán và khá gò bó, cách dùng những dải synth nặng nề để tạo hook cho chorus thay vì có phần hát thì lại không mở rộng được chiều sâu của bài. Có chăng, ở khoảng 30 giây cuối cùng, đoạn dance breakdown di chuyển quyết liệt qua nhiều ý tưởng khác nhau là phần đáng bình luận nhất, nhưng vì không được thiết lập bất kỳ kết nối nào với 3 phút trước đó nên khó tránh khỏi cảm giác 30 giây này được thêm vào để cho bài hát nghe “ngầu” hơn, mặc kệ nó có hợp hay không. Điểm mạnh của BLACKPINK mình không nghĩ nằm ở phần âm nhạc mà nó nằm ở sức hút của 4 thành viên trong vai trò performer. Vì vậy, nếu hướng đi của YG cho nhóm vẫn là “style” thay vì “substance”, âm nhạc của BLACKPINK sẽ luôn phải phụ thuộc quá nhiều vào charisma của từng thành viên mà quên mất rằng họ cũng nên được thử thách để còn trưởng thành hơn trong mặt âm nhạc.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

4

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

09
Sep
18

Single Review: LOONA/yyxy – Love4eva (feat. Grimes)

yyxy - Love4eva

LOONA / yyxy

Love4eva (feat. Grimes)”

beauty & the beat

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi E-Tribe, Billie Jean (BADD), Narae (BADD), Kim Jin Hyeong (BADD)

Phối khí bởi Billie Jean (BADD)

Có 2 điều ta cần lưu ý về “Love4eva” của sub-unit yyxy: bài hát được đồng sáng tác bởi bộ đôi producer E-Tribe – người chịu trách nhiệm cho single bất tử “Gee” (Girls’ Generation) và một số hit nổi bật khác cho Lee Hyori (“U-Go-Girl“) và miss A (“Hush“); điều thứ hai là sự góp mặt của Grimes – một fan lớn của K-Pop nói chung và stan của f(x) nói riêng. Tuy danh mục credit ghi rõ Billie Jean (BADD) là người phối khí, “Love4eva” lại có khá nhiều điểm giống với “Gee“, đặc biệt trong đoạn mở màn với câu giới thiệu từ Grimes và ở cách đưa đẩy phần nhịp điên loạn. Bên cạnh đó, “Love4eva” còn gợi nhớ đến “Very Very Very” mà JYP đã sản xuất cho I.O.I. qua một số lựa chọn instrumentation và một lần nữa, trong cách đưa đẩy nhịp. Vì vậy, việc bạn thích “Love4eva” nhiều đến đâu sẽ phụ thuộc vào việc bạn đánh giá các điểm giống nhau này như thế nào. Nếu ta tách bài hát ra khỏi các so sánh, “Love4eva” là một trong những bài thuần chất K-Pop nhất từ LOONA: cách dùng vocals đầy aegyo, chorus được điều hành catchy đến không tưởng trong khi giai điệu chính thì ngọt như mật, cộng thêm sự xuất hiện bất ngờ của đoạn dance break dùng các âm hưởng EDM, rồi làm chậm lại tempo trước khi quay về chorus cuối cùng. Đây đều là những thủ thuật K-Pop đã hoàn thiện đến từng milimet và phối khí của Billie Jean (BADD) cũng không phải là ngoại lệ. Nếu ta đánh giá “Love4eva” dựa trên tất cả những gì LOONA đã ra mắt trước đó (cũng như với 2 bài mình đề cập), “Love4eva” mặc dù catchy nhưng lại không nổi trội. Về mặt sáng tạo, nó thua xa sự táo bạo của “Girl Front“, nó cũng không làm mới những gì có sẵn như “I’ll Be There” hoặc “Sweet Crazy Love“. Một single ổn, nhưng phần nào hơi thất vọng khi nó đến từ chính LOONA.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

7

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler




RECOMMENDED LISTENING

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------
Advertisements