Archive for the 'Reviews' Category

04
Jun
17

Single Review: Min & Erik – Ghen (1992 KHÙNG Remix)

Min & Erik - Ghen (1992 KHÙNG Remix)

MinErik

GHEN (1992 KHÙNG Remix)”

_ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi Khắc Hưng, trình bày bởi MIN và ERIK, phối khí và dàn dựng bởi KHÙNG

Tin tốt là như các remix khác của KHÙNG, bản 1992 Remix cho “Ghen” là một sản phẩm hay hơn bản gốc (một trong những bài dở nhất từ trước giờ của Khắc Hưng). Tin xấu là việc mặc dù có ý tưởng thú vị, bản remix này chỉ ra rõ cho dù là một producer linh hoạt trong nhiều dòng nhạc, Funk/Neo-Soul không phải là sở trường của anh. Tuy lấy năm 1992 để phần nào làm bệ phóng cho câu đùa “một tuyệt phẩm song ca của nam ca sĩ Lý Thành và nữ minh tinh Diễm Hằng“, phần phối khí ở đây mang nhiều điểm tương đồng với những gì Maxwell từng giới thiệu qua album Maxwell’s Urban Hang Suite (1996) và sau đó tại Việt Nam, ta cũng nghe những âm thanh tương tự qua “Tóc Ngắn” của diva Mỹ Linh (1999).  Có nhiều thứ KHÙNG làm hay ở đây là phần bass được dàn dựng nghe rất groovy và phần lớn các yếu tố trong mặt instrumentation đều có sự chăm chút để diễn đạt chính xác tính chất throwback của bài. Tuy nhiên, bản gốc của “Ghen” là một sáng tác đặc trưng của Pop/Dance đương đại với ý đồ rất rõ ràng cho mặt hook (Bởi vì anh ghen ghen ghen ghen mà/Vì anh đang yêu thôi thôi thôi mà). Vì vậy, khi cố nối kết phần phối khí đầy hơi hướng của Neo-Soul/Funk vào một sáng tác không chút liên quan như vậy, chưa kể cả 2 ca sĩ MinErik được huấn luyện theo Pop nhiều hơn là R&B, “Ghen (1992 KHÙNG Remix)” là một sản phẩm đáng nể trong sự cố gắng hơn là trong kết quả hiện thực.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

5/10

_ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

Advertisements
03
Jun
17

Single Review: Kimmese – Loving You Sunny (feat. Đen)

Kimmese - Loving You Sunny

Kimmese 

Loving You Sunny (feat. Đen)”

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Trình bày bởi Kimmese & Đen, phối khí và sản xuất bởi Touliver & JustaTee

Về phần nhạc, “Loving You Sunny” đi nhiều theo hướng an toàn. Phần giai điệu gần như lấy từ sổ tay bí kíp của các ca sĩ R&B tại Mỹ vào đầu thập niên 2000’s (Ashanti) nhưng phần phối khí lại vẫn pha giữa old-school trong chord progressionnew-school trong cách dùng một vài yếu tố của trap. Như khá nhiều bài hát R&B tiêu biểu khác trong 2017, TouliverJustaTee không hề viết nên các quy luật mới nào mà đơn giản, họ chọn một giai điệu du dương, sản xuất nó một cách chuyên nghiệp và cho Kimmese viết nên phần top-line vừa vặn với phần nhạc.

Về Kimmese, “Loving You Sunny” là một ví dụ khác cho thấy khi Kimmese sáng tác lời tiếng Anh, cô hiểu một cách thấu đáo về bối cảnh lẫn văn hoá của ngôn ngữ. Và vì vậy, “Loving You Sunny” không hề nghe quá gượng ép hay thô trong mạch chảy (flow) – một lỗi mà khá nhiều ca sĩ trong V-Pop mắc phải khi họ quá cố trau chuốt để phát âm “đúng”. Sự thiếu thốn trong mặt sáng tạo của cấu trúc, phần nhạc cũng như phần lời củ chuối hoàn toàn được nâng đỡ lên rất nhiều bởi tính thuyết phục trong phần trình bày của Kimmese. Tuy nhiên, cô thanh thoát đến đâu trong cả bè và hát chính thì những đoạn rap của Đen phá đám đến đó. Đen không phải là rapper không có tài (thử nghe phần góp mặt xuất sắc và hài hước của anh trong “Ngổn Ngang” cùng Chicken & Fox), nhưng anh gần như không tìm ra được flow nào sẽ hợp lý trên phần phối khí này. Cách rap đều đều và rất khô cứng của anh cứ liên tục “đẩy” người nghe ra khỏi cái atmosphere Kimmese đang xây dựng và đến cuối cùng, “Loving You Sunny” là một bài hát tuy có nhiều điểm tốt nhưng cũng vừa đủ điểm xấu để trung hoà tất cả.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

6.5/10

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

31
Mar
17

Single Review: Soobin Hoàng Sơn – Anh Đã Quen Với Cô Đơn

Soobin.jpg

Soobin Hoàng Sơn

Anh Đã Quen Với Cô Đơn

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác và trình bày bởi Soobin Hoàng Sơn

Phối khí và dàn dựng bởi TINLE

Sau khi hợp tác với Phạm Toàn ThắngAndre Ngo trong “Đi Và Yêu“, Soobin Hoàng Sơn tiếp tục làm việc với một nhân tố khác đến từ giới nhạc độc lập: TINLE. Qua những bản remix đậm chất R&B cho các hit như “Em Đã Biết” hay “Đi Về Đâu“, TINLE chứng minh bản thân có một sự am hiểu rõ ràng đối với việc mình cần làm gì để cho bài hát nghe cho ra chất R&B, cũng như anh nắm bắt khá tốt khía cạnh dàn dựng để hỗ trợ cho phần giai điệu chính.

Trong sản phẩm mới nhất “Anh Đã Quen Với Cô Đơn” (“AĐQVCĐ“), những điểm mạnh đề cập đều được TINLE tiếp tục thể hiện, mặc dù cách anh tiếp cận bài hát lần này nghiêng về phong cách tối giản nhiều hơn. Mở đầu bằng Rhodes piano rồi sau đó dùng chỉ đúng electric guitar để đệm phần verse, tuy “AĐQVCĐ” càng về sau có một vài khoảnh khắc thú vị hơn trong mặt sonic nhưng cuối cùng nó vẫn rơi vào cái bẫy mà “Em Đã Biết” (Suni Hạ Linh) từng mắc phải. Ở đây là một bài hát có giai điệu đẹp, Soobin thể hiện R&B cũng tạm ổn (mặc dù kỹ thuật riffing melisma của anh còn hạn chế), TINLE thì là một bàn tay rất chắc với kiểu Pop/R&B này nhưng kết quả cuối cùng chỉ dừng lại ở việc nghe trơn tru mà không có bất kỳ yếu tố bất ngờ nào. Bên cạnh đó, cách chọn instrumentation cũng có vấn đề bởi trong khi các lớp âm thanh hòa nhau rất đồng đều, lựa chọn ở đoạn 0:16 lại nghe lạc lõng và rất “nhựa” – một lỗi rất uổng vì phần chơi guitar đệm sau đó dễ dàng là yếu tố hay nhất bài. Xét riêng về mặt âm nhạc, “AĐQVCĐ” không hẳn là thất bại vì nó cho thấy V-Pop đang dần hình thành một cá tính rõ ràng hơn bao giờ hết đối với R&B. Dòng chảy đã có sẵn, nên những gì còn đang thiếu là những nhân tố lẫn quyết định táo bạo hơn cho sự phát triển về sau của dòng nhạc này.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Điểm số: 6+/10

Damen H. 

 

17
Nov
16

Single Review: Britney Spears – Slumber Party (feat. Tinashe)

glory-britney-album-cover-1

Britney Spears 

Slumber Party” (feat. Tinashe)

Glory (Deluxe Version)

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Sáng tác bởi Mattias Larsson, Robin Fredriksson, Julia Michaels, Justin Tranter

Phối khí và dàn dựng bởi Mattman & Robin Mischke

Trình bày bởi Britney Spears và Tinashe

Nếu có bài nào xứng đáng đứng thứ hai phía sau “Do You Wanna Come Over?” (“DYWCO“) – bài hay nhất của Britney Spears kể từ “How I Roll” -, đó chính là “Slumber Party“.  Về mặt phối khí/dàn dựng, “Slumber Party” là một bản R&B/Pop với chút reggae trong nhịp percussion ở phần điệp khúc. Như “DYWCO“, “Slumber Party” gợi nhớ đến khá nhiều những gì xảy ra vào thời In The Zone khi chất urban của những kiểu production hiện đại hơn, “electronic” hơn bắt đầu “xâm nhập” vào thế giới dance-pop của cô. Và cũng vì thế, cách dùng reggae ở đây cũng khá khác biệt khi nó thực hiện ở một tiết tấu nhanh hơn bình thường để tránh làm điệp khúc nghe quá ì ạch.

Trong khi những đoạn verse và pre-chorus được thực hiện hợp lý, phần chorus lại là yếu tố gây thất vọng nhiều nhất từ single này. Áp dụng những tiếng synth nghe như mặt nước được lay động, Mattman & Robin tạo một môi trường hoàn hảo để BritTinashe bắt đầu những câu mời gọi tán tỉnh qua nhà ngủ lại (rồi quay phim). Cả hai đều là những ca sĩ có thể biến những câu “trêu đùa” củ chuối nhất nghe sexy, nên không có gì lạ khi mỗi người đều hoàn thành xuất sắc phần verse mà không cần đổ một giọt mồ hôi nào. Nhưng khi đang qua đến chorus, phần giai điệu trở nên yếu hẳn và cộng thêm việc instrumentation trở nên quá “bận rộn”, tất cả những gì cần thiết để xây dựng một hook đều bị lu mờ đi. “Slumber Party” bắt đầu là một bữa tiệc đầy những hứa hẹn hấp dẫn triển vọng. Đến khi phần cao trào bắt đầu, cả TinasheBritney đều không thể làm ai hứng thú nổi với đoạn chorus lìu xìu như vậy.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

6/10

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Paula

 

12
Nov
16

Single Review: The xx – On Hold

the-xx-on-hold

The xx 

On Hold

I See You

Youtube

Phê bình lớn nhất mình có cho Coexist không phải là việc nó là một bản copy y chang album đầu tay, mà là việc các sáng tác của Oliver/Romy lần đó không có một sự đa dạng rõ nét giữa từng bài. Đến cuối, ngoại trừ single “Angels” và bản deep-house “Swept Away“, những bài còn lại như tan hẳn vào nhau không biết ai là ai.

Là single mở đầu cho album mới I See You, “On Hold” được Jamie xx giới thiệu trước đó là hướng đi tiếp cho những gì anh đã làm trong album solo In Colour. Và phần preview đó khá là chính xác khi “On Hold” được Jamie phát triển thành một bản disco ballad với phần vocal sample từ “I Can’t Go For That (No Can Do)” của  Hall & Oates. Đây không phải là lần đầu tiên The xx dùng sample trong nhạc của mình vì single “Chained” lúc trước cũng sample phần trống từ “Lillies Of The Nile” của Crusaders. Nhưng lần này, dùng vocal sample để hình thành điệp khúc cho thấy The xx đã thật sự bỏ hẳn phong cách minimalism trước đó và hướng ban nhạc của mình một hướng đi pop hơn bao giờ hết. Ở mặt tích cực, “On Hold” giúp họ thoát khỏi những phê bình “thiếu mạo hiểm, thiếu sáng tạo, dậm chân tại chỗ“. Nhưng ở mặt tiêu cực, bài hát đánh dấu sự kết thúc của những ảnh hưởng post-punk – một trong những yếu tố lớn nhất đã làm nên thành công ban đầu của nhóm. Thứ 2, vì RomyOliver hướng bài hát thành một bản ballad, chính họ buộc bản thân phải trình bày nó như ca sĩ thứ thiệt hơn bao giờ hết. Và từ trước đến giờ, cái thu hút trong phần trình bày của The xx nằm ở sự hòa âm hoàn hảo giữa 2 giọng hát không hoàn hảo. Khi họ đặt mình vào vị trí này, cả hai đều  chỉ ra quá nhiều hạn chếcủa mỗi người trong vai trò ca sĩ. “On Hold” là một hướng đi cần xảy ra từ một trong những ban nhạc original nhất trong giới Indie, nhưng The xx cần cân bằng chuẩn hơn công thức hiện tại vì không thể nào họ cho Jamie xx cơ hội tỏa sáng, trong khi đó 2 mẩu còn lại cảm giác như “gánh nặng” cho bài.

6/10

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

17
Jul
16

Album Review: Neon Bunny – Stay Gold

Stay Gold

Những âm thanh mơ mộng, lung linh lan tỏa qua từng cảm xúc vui, buồn lẫn cả những kỉ niệm trên từng chuyến xe đi khắp Seoul, cách Im Yujin (tên thật của Neon Bunny) trưởng thành qua từng album và EP không hẳn là câu chuyện của một người càng lúc càng lạnh nhạt trong và bất cần đối với mọi thứ xung quanh. Trái lại, tuy những màu sắc tươi sáng indie-pop của Seoul-light hay giai điệu disco rộn rã của Happy Ending dần được thay thế bằng những sáng tác tâm trạng hơn, Stay Gold cho thấy cô vẫn mải miết theo đuổi những khoảnh khắc giản dị của tình yêu, vẫn muốn nhìn cái cảm giác có chung ở vạn vật ấy qua lăn kính vạn hoa của riêng mình – xoay vòng giữa các gam màu khác nhau của nhạc pop và nhạc điện tử.

Small torch at nightin lovecome back

Mở đầu với 2 bài hát đã được ra mắt trước đó “Romance in Seoul” và “Forest of Skyscrapers“, Yujin nhanh chóng xác định hướng đi cho các bài còn lại thông qua phiên bản electro-pop/synth-pop mộng mơ của riêng mình. Tuy sử dụng nhiều hiệu ứng quen thuộc từ nhạc điện tử, cô lại dàn dựng chúng như cách một ban nhạc shoegaze/dream-pop sẽ làm. Bên cạnh những đoạn synth pad xao xuyến, phần trống lê thê, cùng những yếu tố nhạc ambient và (đôi lúc) âm thanh truyền thống của gayageum** (“Romance in Seoul“), Yujin sử dụng giọng hát của mình như một thành viên khác của phần phối khí. Ngoại trừ bài kết “나를 잊지 말아요 (Don’t Forget Me)“, tất cả những bài còn lại đều bắt gặp cô dùng rất nhiều reverb và đôi khi tự “lọc” giọng mình để cho bản thân hòa vào làm 1 với không khí chung của bài hát.

Ở “Room314“- Yujin tiếp tục hợp tác với producer Mark Redito (được biết đến dưới nghệ danh Spazzkid) và họ để phần vocals tách biệt rất rõ so với tất cả các instrumentation còn lại. Thậm chí khi những đoạn synth trở nên móp méo và bài hát đi vào một đoạn dance-breakdown với các âm thanh líu chíu líp bíp thay phiên nhau liên tục, vocals của Yujin (được áp dụng delay) tiếp tục lơ lửng luồn lách từng phân đoạn – tạo ra khoảnh khắc “táo bạo” lẫn bắt tai nhất trong mặt production của album.

night citynight city 2night city 3

All I Want Is You” và “Ai“, 2 ca khúc rạng rỡ và tươi vui nhất album, cho thấy ở những tiết tấu nhanh hơn, Neon Bunny vẫn tìm ra được cách để dung hợp thành công nhất công thức nhạc pop của mình với 1 số xu hướng đương đại. Đều chất chứa những lời bộc bạch chân thành về tình yêu, (“All I want is you/I can’t see no one but you babe” hay “When I’m not with you, I feel so incomplete“), Yujin mượn lại cách dùng percussion cực kỳ tuyệt vời một thời trong “너여야 (It’s You)” để đưa phần cao trào của “All I Want Is You” nổ tưng bừng như pháo hoa đêm giao thừa. Với “Ai“, cách xen lẫn giữa house và pop làm dễ liên tưởng đến các hit lớn của Disclosure/Duke Dumont. Nhưng thực tế, “Ai” lại gợi nhớ về Junior Boys (“In The Morning“) nhiều nhất trong cách dùng piano để thực hiện những hợp âm rải. Dĩ nhiên, phiên bản của Yujin không đi quá xa để dẫn đến những đoạn nhịp phức tạp mà thay vào đó, cô dùng 1 yếu tố phức hợp để cân bằng với yếu tố percussion đơn giản hơn của bài.

sunsetin lovein love 2

Một yếu tố ít khi được đề cập nhưng đóng vai trò mấu chốt để làm nên Neon Bunny nằm ở khả năng sáng tác cừ khôi của cô. Tiêu biểu nhất phải nhắc đến “너여야 (It’s You) (dẫn đầu Bài Hát Của Năm 2014 của VNNTB) và đồng thời vẫn là bài hát xuất sắc nhất từ Stay Gold. Bỏ qua hết những dàn dựng công phu mầu nhiệm từ Demicat, “너여야 (It’s You) vẫn có thể đứng vững chỉ thông qua mặt giai điệu chan chứa và phần chorus xúc tích trong lời nhắn nhủ “Without any reason, it just has to be you/It’s you, it’s you“. Một ví dụ điển hình khác nằm ở “나를 잊지 말아요 (Don’t Forget Me)” – cái kết mộc mạc cần thiết sau một “New Moon” lan man thiếu đặc sắc. Ở đây, Yujin để những câu hát của mình trôi nhẹ nhàng trên nền piano và những tiếng quét (brushing) thấp thoáng phía sau. Đến khi cả phần phối khí như dần đang muốn lên một cao trào mới, cô lại xuống trầm, cho phép mình lạc mất vào sau phần nhạc, thổn thức lập đi lập lại “Don’t forget me….“.

Stay Gold không hẳn là một sản phẩm hoàn chỉnh từ đầu đến cuối và điểm trừ của album nằm ở 2 ca khúc với 2 vấn đề đối ngược nhau. Mặc dù không thể phủ nhận “너여야 (It’s You)“, cách Yujin/Demicat thực hiện phần production mang một nét rất khác so với những bài còn lại, cho dù mục đích cuối cùng vẫn là mang cái âm thanh tản mạn của Seoul về đêm. Cho nên, khi “All I Want Is You” kết thúc và album đi đến “너여야 (It’s You)“, sự mạch lạc của Stay Gold bị đứt đoạn và chỉ tiếp tục “chảy” khi “Ai” bắt đầu. Với “New Moon” – bản dream-pop được chuyển biến từ đoạn interlude “북악산로 (Bugaksanlo)” (tên một con đường ở Seoul), bài hát có tất cả những đặc điểm trong âm sắc để đứng chung với những bài còn lại, nhưng sáng tác ở đây lại thiếu đi sự sắc sảo hay bắt gặp cũng như phần production cứ mênh mang không biết đi về đâu.

The ridefireworksblue again

Cụm từ “stay gold” nổi tiếng nhất có lẽ là qua câu nói “Stay gold, Ponyboy. Stay gold” từ một trong những tiểu tuyết tiêu biểu của văn học Mỹ The Outsiders. Ở chương 9, nhân vật Johnny Cade hy vọng Ponyboy sẽ luôn giữ được tâm hồn của bản thân mặc dù Cade biết rằng không sớm hay muộn, “màu vàng óng” ấy sẽ bị phai mờ dần khi những xấu xí của hiện thực lần lượt chen chân đi vào. Trong trường hợp của Neon Bunny, cô từng khiêm tốn tâm sự với tạp chí trực tuyến Sumgyeojingem rằng cô biết mình không đủ tài năng để theo đuổi chơi jazz, hay có giọng hát trời phú để tập tành theo các ca sĩ hát R&B/Pop. Vì vậy, cô muốn là chính mình và theo đuổi dòng nhạc mà cô cảm thấy diễn đạt chính xác nhất tình yêu mình có cho Seoul. Và Stay Gold, một trong những album hay nhất của năm, là bản tình ca cho những lần lạc lõng trong thành phố, cho những chuyến đi xa mãi không nguôi và có qua những cái hôn vội vã, hay những lúc nỗi nhớ trở nên quá lớn, Yujin vẫn để cho những hy vọng lóe sáng, lung linh không ngừng như chính Seoul vào đêm đưa mình về.

Love ChainBeachfireworks

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

9/10

 _ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Pauler

  • * Tất cả những ảnh được dùng được sự cho phép của tác giả Phi Huỳnh. Các bạn có thể xem thêm ảnh của anh ấy tại đây.
  • ** Gayageum: một nhạc cụ truyền thống của Hàn Quốc và khá giống với đàn tranh của Việt Nam.

 

 

08
May
16

Album Review: Beyoncé – LEMONADE

Lemonade

Album cùng tên của Beyoncé ra mắt vào cuối 2013 là một luận chứng xuất sắc về chủ đề feminism khi đồng loạt khai thác khía cạnh sexuality của phái nữ và liên tục bảo vệ định kiến ấy từ bài này qua bài khác. Ở 2016, Bee thực hiện một visual album tương tự, bao gồm concept rõ ràng lẫn đầy đủ video cho từng bài. Nhưng trong khi Beyoncé dừng lại là một sản phẩm tổng hợp nhiều bài hát (và nhiều video) xuất sắc về cùng một chủ đề, Lemonade đi thêm một bước xa hơn bằng việc sắp xếp các bài theo thứ tự của một câu chuyện đáng kể  với đủ hỉ nộ ái ố từ trải nghiệm của một người phụ nữ da màu khi sự chung thủy trong hôn nhân bị phá vỡ hoàn toàn. Từ Beyoncé, chỉ “Heaven” và “Blue”  mới thật sự cho công chúng thấy được đằng sau một persona hoàn hảo từ sự nghiệp, gia đình và địa vị, cô cũng có những câu chuyện muốn nói như nhiều người phụ nữ từng làm mẹ, cũng những cái đau khi biết tin mình sảy thai và cũng hạnh phúc đến nghẹn lời với đứa con đầu lòng. Với Lemonade, bất kể là sản phẩm của một chiến thuật marketing hiệu quả hay nó mang tính tự sự chân thành, đây vẫn là một album không những thuyết phục khi cho thấy Beyoncé ở những khoảnh khắc “thật” nhất trong đời tư mà nó còn là cơ hội để cô tiếp tục mở rộng phạm vi thử nghiệm trong âm nhạc ở một mức độ mà hiện tại không ai trong mainstream theo kịp.

Bee 9

Đi kèm một danh sách credit tiếng Anh dài đến 3105 chữ, Lemonade có sự góp mặt của hàng loạt nghệ sĩ, producer từ mới đến cũ, từ mainstream cho đến những người “âm thầm” nhất trong giới indie. Chưa hết, phần sample cho Lemonade cũng dao động từ nhiều bài ở các thập niên âm nhạc khác nhau và sự phong phú đa dạng trong lựa chọn sample càng cho thấy Beyoncé trong vai trò của một executive producer mang tính chất mấu chốt như thế nào.Lấy ví dụ như “Hold Up“, 1 trong những bài với phần credit dài nhất, nó mượn instrumentation từ “Can’t Get Used To Loving You” của Andy Williams (một hit nhạc soul vào 1963), sau đó phần giai điệu được xây dựng lần lượt qua tay của Father John Misty, Ezra Koenig (Vampire Weekend), MNEK và một số lyrics được truyền cảm hứng từ “Turn My Swag On” của Souja Boys (câu đầu trong đoạn bridge) cho đến bản indie rock bất hủ “Maps” của Yeah Yeah Yeahs (câu hook chính “Hold up, they don’t love me like I love you“). Ở một góc độ nhất định, việc “thừa nhận” trước những câu lyrics kia được truyền cảm hứng từ đâu là một bước đề phòng quá kỹ của đội ngũ phía sau Beyoncé nhằm tránh những kiện tụng như kiểu giữa gia đình của Marvin GayeRobin Thickie một thời. Ở góc độ khác, “Hold Up” là một sáng tác trôi chảy và sắc sảo đến bất ngờ khi mà mỗi phong cách của từng cộng tác đều hiện rõ (dancehall từ MNEK, cách dùng lyrics của Father John Misty và rhythm đặc trưng của Koenig) nhưng nó lại không nghe như một nồi lẩu thập cẩm “khó nuốt”.

Bee 8

Một ví dụ khác cho việc kết hợp thành công các sample khác nhau nằm ở “6 Inch” – bản R&B “tăm tối” trong mặt sonic nhưng lại là một trong những bài dễ “cảm” hơn trong cả album. Sample từ bản cover “Walk On By” của Isaac Hayes vào 1969 (bản gốc của Dionne Warwick) và mượn dòng lyric “To seem like I care about material things” từ “My Girls” của Animal Collective, “6 Inch” khuyến khích nữ giới luôn tự hào về việc tự mình kiếm ra tiền và họ nên thể hiện điều đó thay vì sợ nam giới cảm thấy “lép vế” nếu họ biết. Nhưng trước khi mang lại dấu ấn của “Independent Woman (Part 1)” ở “6 Inch“, Beyoncé  khai thác cái căm phẫn và giận đến tê người qua những cách khác nhau trong 2 tiêu biểu của Lemonade: “Don’t Hurt Yourself” và “Sorry“. Tuy không phải là bài đầu tiên giới thiệu người nghe đến một Beyoncé mất hút trong cơn giận, “Don’t Hurt Yourself” làm cho “Ring The Alarm” nghe như nó được thực hiện bởi Taylor Swift với một sự nâng cấp rõ ràng trong phần sáng tác và phối khí. Trong khi phần guitar của Jack White đùng đùng trên nền drum sample từ “When The Levee Breaks” của Led ZeppelinBee liên tục chỉ thẳng mặt người chồng phản bội với những câu hát mãnh liệt như thể muốn nổ tung cả phần filter “WHO THE FUCK DO YOU THINK ARE YOU?” hay đến những câu ngập tràn trong cả phẫn nộ lẫn xúc phạm “You ain’t married to an average bitch boy!“. Ở “Sorry“, Bee mượn lại nội dung  của “Irreplaceable” ngày nào và từng câu hát, cô thể hiện trong cái khinh bỉ đến bất cần “Let’s have a toast to the good life/Suicide before you see this tear fall down my eyes“. Nhưng tất cả đều không cay độc bằng ngay đoạn cuối bài, khi phần production giảm dần tempo và đi vào một groove bồng bềnh để cuối cùng cô kết thúc bằng lời châm biếm cay độc về người đàn bà thứ 3 “You betta call Becky* with the good hair

*Becky: là một từ lóng được bắt nguồn từ bài “Baby Got Back” của Sir Mix’A’Lot, dùng để nói đến một người phụ nữ da trắng nhưng không được thông minh cho lắm (khá tương tự với từ “vàng hoe”).

Bee 7

Tuy vẫn nghe kết nối với mạch chảy của các bài còn lại, phần giữa của Lemonade trong 3 bài tiếp theo dễ dàng là phần yếu nhất cả album. Ở “Daddy Lessons“, với phần hòa âm bao gồm tiếng kèn đồng (brass), harmonica, tiếng “Yee-haw” mở màn cũng như những đề cập về rượu Whiskey, đĩa than vinyl, súng trường và Second Amendment (quyền được sở hữu và sử dụng vũ khí trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Hoa Kỳ), Beyoncé thử tay mình với nhạc country – một dòng nhạc bắt nguồn từ những bang phía Nam của Mỹ từ những năm 1920s (bao gồm cả Texas – nơi cô sinh ra và lớn lên). Gây ấn tượng bởi yếu tố bất ngờ nhiều hơn là ở yếu tố âm nhạc, “Daddy Lessons” đứng vững trong Lemonade ở mặt nội dung nhưng lại nghe rất lệch tông ở mặt âm nhạc, đặc biệt khi phần kể chuyện không được khai thác một cách trơn tru ở mặt lyricism. Đến bản electronic R&B “Love Drought“, Bee gặp phải một vấn đề trái ngược. Đại diện cho chương Reformation, “Love Drought” tiếp tục đưa thêm những cái nhìn chân thật về hôn nhân khi cả hai bên đặt lỗi lầm qua một bên và đi đến một thỏa hiệp nhất định (But nine times outta ten, I know you’re trying/So I’m trying to be fair/And you’re trying to be there and to care). Nhưng, với mỗi dòng lyric bộc trực và thuyết phục qua phần vocals (thậm chí ở cả đoạn chorus rất sến), cách BeeMike Dean chọn hòa âm lại nghe khô cứng và thiếu sự phối hợp chu toàn để phần nội dung thật sự đi đến cái đích họ đề ra. Để rồi, điểm yếu này lấn sang cả bản piano ballad “Sandcastles“, một bài soul xúc tích kể về sự chấp nhận hiện thực cũng như tượng trưng cho việc cánh cừa của chương Forgiveness bắt đầu. Thậm chí khi đây là một trong những màn vocals hay nhất trong sự nghiệp, phần phối khí ủy mị làm “Sandcastles” nghe như một B-side của Adele vì nó không có được cách chia cấu trúc tinh tế và “làm mới” ballad như những gì “Heaven” từng làm.

Bee 3

Ở 4 bài cuối cùng, Lemonade trở về những đỉnh cao ngất ngưởng trong mặt chất lượng của nửa đầu. “Forward” với James Blake nghe như một bản interlude thay vì là một bài hát trọn vẹn. Vẫn với kiểu “điện tử hóa” phần vocals và cách chơi piano rải rác xen lẫn những khoảng trống, Blake trở thành một tương phản hoàn hảo trong mặt hòa âm so với những gì Jack White làm trước đó. Mặc dù “Forward” kết thúc đột ngột, nó trở thành một bàn đẩy tự nhiên cho “Freedom (feat. Kendrick Lamar)” sau đó. Như “Formation“, “Freedom” lả bài mang tính chất “chính trị” hơn cả, thể hiện rõ nhất khi Beyoncé nhắc đến phong trào Black Lives Matter bằng việc mời phụ huynh của Trayvon Martin, Michael Brown và Eric Garner xuất hiện trong Lemonade với ảnh của con mình. Nhưng nếu đơn thuần ám chỉ “Freedom” là sự ăn ăn theo thời sự nổi bật của năm thì rất không công bằng khi bản thân nó là cả một trải nghiệm sâu sắc về giá trị của người phụ nữ trong xã hội cũng như sự tồn tại của phân biệt chủng tộc khi cảnh sát dùng vũ lực với người da màu (Six headlights wavin’ in my direction/Five-O askin’ me what’s in my possession). Thông qua phần bass tuyệt vời của Marcus Miller cũng như phần production gợi tả rất chính xác về những thời kỳ đấu tranh mãnh liệt của African-American, ở một mặt, “Freedom” là bậc đài để Kendrick tiếp nối chủ đề về  social justice anh từng đề cập trong “Alright“. Mặt khác, bài hát là một bản tuyên ngôn kiên định của Bee dành cho chính những người phụ nữ được chia những ván bài cháy tàn từ xã hội và cô hy vọng mình có thể truyền cảm hứng để họ tìm thấy tự do cho chính mình.

Bee 4

Cuối “Freedom“, Beyoncé sử dụng đoạn ghi âm từ một bữa tiệc sinh nhật lần thứ 90 từ bà nội của Jay-Z, và trong đó, bà nhắc lại một trong những câu thành ngữ trong văn hóa nước Mỹ “I had my ups and downs, but I always found the inner strength to pull myself up. I was served lemons, but I made lemonade“. Câu nói ấy trở thành nguồn cảm hứng chính cho tựa đề album, cũng như trở thành phần outro để phần kể chuyện của Beyoncé đi vào chương Redemption với “All Night” – bài hát kết thúc bộ phim Lemonade bằng cách cho thấy sau bao nhiêu trắc trở và thăng trầm của 10 chương trước, cuộc hôn nhân của cả 2 dần dần trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết (Our love was stronger than your pride/Beyond your darkness, I’m your light). Và để thể hiện luôn sự tôn trọng đối với nền văn hóa ở nơi Bee lớn lên, DiploHenry Allen sample tiếng kèn đồng từ “SpottieOttieDopaliscious” của Outkast – một trong những bài kinh điển nhất của dòng Southern Hip-hop.

Bee 5

Sự lựa chọn Formation để làm bài kết thúc album là một bất ngờ bởi khi nghe Lemonade sau khi đọc những thông tin về cảm hứng cũng như nội dung nói chung, thật khó để tưởng tượng một bài như vậy sẽ phù hợp. Tuy nhiên, mặc cho “Formation“phù hợp với album Beyoncé hơn trong mặt sonic, nó là một phần hợp lý trong cách khám phá và ca ngợi những đặc trưng của người da màu cũng như ám chỉ đến Black Panther khi tổ chức này hoạt động để  phản đối về việc lạm dụng vũ lực cũng như những hành động thô bạo của cảnh sát đối với người dân da màu vào cuối những năm 60’s/đầu 70’s.

Bee 6

So với BeyoncéLemonade vượt trội hơn trong nhiều khía cạnh và lép vế hơn ở một số điểm. Nếu xét trên phương diện về sự đồng đều trong mặt chất lượng giữa các bài hát, Beyoncé vẫn là một album tốt hơn. Tuy nhiên, Lemonade lại là album chặt chẽ hơn trong mặt sequencing, liên kết tất cả mọi thứ từ chủ đề, cách thực hiện, sáng tác, phối khí mặc cho có bao nhiêu người tham gia hay bao nhiêu sample được dùng. Bên cạnh việc chịu thử sức ở những dòng nhạc mà Beyoncé chưa bao giờ đụng vào trước đây (garage rock, country), Lemonade còn muốn mang tính tự sự nhưng cũng muốn có một cái nhìn thẳng thắn về mặt chính trị sau hàng loạt bạo hành đã xảy ra với người da màu. Và với những tham vọng rất lớn sẽ dẫn đến những cái “hố” sâu hơn để trượt chân vào. Nhưng với Lemonade, Beyoncé né gần như tất cả những rủi ro có thể xảy ra và ngay trong 2016, 13 năm kể từ album đầu tay, cô vẫn không ngừng thách thức bản thân để đi cao hơn những cái “đỉnh” do chính mình làm trước đó.

Bee 10

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

8.8/10

 

 




ALBUM REVIEW IN 2016

Photobucket

Burn Book

Reviews

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

review,ensiferum

Photobucket

Photobucket
 

    Basic HTML Code for your comment

Bold: <strong></strong> -------------------------------------

 

Italic: <em></em> -------------------------------------

 

Underline: <span style="text-decoration: underline;"></span> -------------------------------------

 

Image Code: <img src="Image URL" alt="Description" /> -------------------------------------

 

Color Red: <strong><span style="color: #ff0000;">Red</span></strong> -------------------------------------

 

Color Orange: <span style="color: #ffcc00;"><strong>Orange</strong></span> -------------------------------------

 

Color Yellow: <strong><span style="color: #ffff00;">Yellow</span></strong> -------------------------------------

 

Color Green: <strong><span style="color: #99cc00;">Green</span></strong> -------------------------------------

 

Color Blue: <strong><span style="color: #00ccff;">Blue</span></strong> -------------------------------------

 

Heading 1 ( biggest font size): <h1>Heading 1</h1> -------------------------------------

 

Heading 2 ( bigger font size): <h2>Heading 2</h2> -------------------------------------

 

Heading 5 ( smallest font size): <h5>Heading 5</h5> -------------------------------------